CN 26 TN, C: Sử dụng tiền của với trách nhiệm cứu giúp

CN_26_TN_CChúa Nhật 26 Thường Niên, Năm C

Am 6:1a, 4-7; 1 Tm 6:11-16; Lc 16:19-31

Nếu đời này là cùng đích của con người, thì những cảnh nghèo khổ, đói rách, bệnh hoạn, tật nguyền, sầu khổ.. là những bất hạnh của con người. Nếu đời này là cứu cánh, thì người ta phải tận hưởng cho tới mức tối đa: người ta phải tìm ăn ngon mặc đẹp, người ta phải kiếm tìm những thú vui cho thoả mãn. Tuy nhiên đời này chỉ là tạm gửi. Trừ ra những người theo chủ nghĩa duy vật vô thần, còn đa số loài người đều tin có đời sau. Nếu không có đời sau, thì nhiều việc xẩy ra ở đời này là bất công, bởi vì nhiều người hiền đức, thánh thiện và công chính đã phải chịu kiếp sống nghèo đói, tù đày và phải mang bệnh tật đau đớn.

Xem thêm: CN 26 TN, C: Sử dụng tiền của với trách nhiệm cứu giúp

Write comment (0 Comments)

CN 15 TN, C: Yêu tha nhân phải được thể hiện bằng việc làm

CN_15_TN_CChúa Nhật 15 Thường Niên, Năm C

Ðnl 30:10-14; Cl 1:15-20;  Lc 10:25-37

Ý thức được con người có xác và hồn, cho nên ước muốn của người luật sĩ trong Phúc âm hôm nay là làm thế nào để được hưởng sự sống đời sau. Vì thế ông ta bèn hỏi Ðức Giêsu làm sao để được hưởng sự sống vĩnh cửu? Ðọc Phúc âm, ta thấy đôi khi Chúa Giêsu trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi khác, nhất là khi gặp câu hỏi hai ý, hay khi người hỏi, không phải muốn biết, nhưng hỏi để bắt bẻ.

Người luật sĩ hôm nay đặt câu hỏi, không phải để bắt bẻ, nhưng là muốn biết. Tuy vậy Chúa Giêsu cũng hỏi lại để cho ông ta ý thức về bổn phận của mình, cho ông ta thức tỉnh và suy nghĩ, khiến ông ta tự tìm ra câu trả lời. Chúa Giêsu hỏi lại viên luật sĩ rằng: Trong lề luật đã chép như thế nào?(Lc 10:26). Người luật sĩ thưa: Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình (Lc 10: 27). Ở nơi khác trong Phúc âm, Chúa Giêsu bảo người thông luật/kinh sư hai giới răn quan trọng nhất nhì trong các giới răn là: mến Chúa và yêu người (Mt 22:37-39; Mc 12:30-31). Tuy vậy người luật sĩ không mãn nguyện với câu trả lời trong sách luật mà ông ta coi là quá tổng quát và trừu tượng. Ông ta muốn thấy có gì cụ thể nên mới hỏi lại: Nhưng ai là người thân cận của tôi? (Lc 10:29).

Xem thêm: CN 15 TN, C: Yêu tha nhân phải được thể hiện bằng việc làm

Write comment (0 Comments)

CN 24 TN, C: Niềm vui khi tìm được người hay vật đã mất

CN_24_TN_CChúa Nhật 24 Thường Niên, Năm C

Xh 32:7-11, 13-14; 1Tm 1:12-17; Lc 15:1-32

Thường người ta coi sự vật mình có là ngẫu nhiên, nên không đánh giá được sự vật của mình sau khi bị mất đi. Ai mà không vui mừng khi tìm lại được những gì đã mất, nhất là những vật qúi giá hoặc cần thiết cho đời sống. Ai mà không vui thích khi tìm lại được cặp kiếng độ đeo mắt. Ai mà không thích thú khi tìm lại được chùm chìa khoá. Ai mà không hí hửng khi tìm lại được ví tiền có chứa đựng những giấy tờ thiết yếu. Ai mà không vui mừng khi tìm lại được chiếc nhẫn cưới. Ðược phục hồi sức khoẻ sau một cơn bệnh lâu dài và trầm trọng cũng là dịp vui mừng. Tìm lại được tình yêu hôn nhân đã chết trong con tim mà nay được đổi mới, đã khiến cho những cặp vợ chồng vui mừng cảm động khóc ra nước mắt.

Xem thêm: CN 24 TN, C: Niềm vui khi tìm được người hay vật đã mất

Write comment (0 Comments)

CN 13 TN, C: Theo Chúa phài dành ưu tiên cho việc Chúa

CN_13_TN_CChúa Nhật 13 Thường Niên, Năm C

1V 19:16b,19-21; Gl 5:1, 13-18; Lc 9:51-62

Không phải hễ muốn theo Chúa là được toại nguyện. Ðó chính là điều mà Phúc âm hôm nay ghi lại. Những người mạo nhận theo Chúa trong Phúc âm hôm nay toan đưa ra những lí do để cáo lỗi: người thì sợ không có tương lai bảo đảm (Lc 9:57); người khác thì xin phép về chôn cất cha trước (c. 59); người khác nữa lại xin phép về để từ giã gia đình (c. 61).

Theo Chúa thì phải trả một giá cả nào đó chứ không phải cứ theo khơi khơi là đủ. Giá cả mà người ta phải trả để làm môn đệ Chúa là phải chấp nhận những thiếu thốn, những bất tiện nghi của việc đi theo Chúa như chính Người đôi khi không có chỗ dựa đầu (Lc 9:58). Theo Chúa thì phải chấp nhận việc được sai đi làm việc truyền giáo dưới danh nghĩa là giáo sĩ hay giáo dân tại những xứ truyền giáo có thể là nghèo khổ túng thiếu, có thể bị tẩy chay, bị bách hại làm nguy hiểm đến tính mạng. Người đi truyền giáo phải chấp nhận đời sống thử thách: phải học theo phong tục tập quán của người bản xứ, phải dùng những thức ăn uống mà mình không thích và phải học tiếng nói của dân bản xứ nữa.

Xem thêm: CN 13 TN, C: Theo Chúa phài dành ưu tiên cho việc Chúa

Write comment (0 Comments)

CN 22 TN, C: Bài học khiêm tốn và vị tha

CN_22_TN_CChúa Nhật 22 Thường Niên, Năm C

Hc 3:17-18, 20, 28-29; Dt 12:18-19, 22-24a; Lc 14:1, 7-14

Ðối với người Á đông như người Do thái thời xưa thì việc ngồi chỗ cao trong bàn tiệc là điều quan trọng. Ðược một chỗ danh dự nơi bàn tiệc là một dấu chỉ mình có địa vị và có tầm ảnh hưởng. Trong một buổi yến tiệc, người ta xếp chỗ ngồi theo cấp bậc, chức tước hay địa vị của mỗi nhân vật. Phúc âm hôm nay kể lại việc người Pharisêu mời Chúa Giêsu đến dùng bữa tại nhà. Có lẽ đa số khách được mời đến dự tiệc là người Pharisêu vì bữa tiệc do người thủ lãnh nhóm Pharisêu khoản đãi. Phúc âm ghi lại, họ cố dò xét Ðức Giêsu (Lk 14:1). Tại sao họ lại dò xét Người? Ta có thể suy ra là họ làm như vậy để xem Chúa chọn ngồi ở đâu. Quan sát thấy thiên hạ cứ chọn chỗ nhất mà ngồi, Người mới bảo họ khi được mời đi dự tiệc, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ ra có ai quan trọng hơn cũng được mời, mà phải nhường chỗ chăng? (Lc 14:7-9).

Xem thêm: CN 22 TN, C: Bài học khiêm tốn và vị tha

Write comment (0 Comments)

CN 11 TN, C: Ăn năn sám hối tội lỗi và hoán cải tâm hồn

CN_11_TN_CChúa Nhật 11 Thường Niên, Năm C

2 Sm 12:7-10, 13; Gl 2:16, 19-21; Lc 7:36-50 hay 7:36- 8:3

Trên đường hành trình đức tin, người ta có thể đi trong ánh sáng hoặc quẹo vào những khúc quanh đen tối. Bốn nhân vật trong Thánh kinh hôm nay tượng trưng cho bốn loại người tội lỗi. Bài trích sách Samuen kể lại việc vua Ða-vít phạm tội ngoại tình với vợ của viên tướng lãnh U-ri-gia là bà Bát Seva. Sau khi phạm tội với bà, vua Ðavít cố tình che đậy tội lỗi của mình. Nhà vua sai chồng bà đang ở ngoài trận địa về nhà với vợ, để mai mốt bà có sinh con, thì thiên hạ sẽ cho rằng đó là con của vị tướng. Tuy nhiên tướng Urigia nhất định không chịu về nhà vì ông là một tướng lãnh chuyên nghiệp, muốn sống chết với binh sĩ ngoài chiến trận. Giấu giếm bằng cách này không được, vua Ðavít lại toan che đậy tội lỗi của mình bằng cách lập kế cho giết vị tướng là chồng bà ngoài chiến tuyến để vua có thể cưới lấy bà.

Xem thêm: CN 11 TN, C: Ăn năn sám hối tội lỗi và hoán cải tâm hồn

Write comment (0 Comments)

Lễ Đức Maria Lên Trời, Năm C: Những sứ điệp Mẹ dạy tại La Vang

LE_ME_LT_CLễ Đức Maria Lên Trời, Năm C

Kh 11:19a;12:1-6, 10ab; 1Cr 15:20-27; Lc 1:39-56

Ngoài hai nơi Ðức Mẹ hiện ra được vang tiếng khắp thế giới là Lộ Ðức thuộc nước Pháp và Fatima thuộc nước Bồ Ðào Nha, Ðức Mẹ còn hiện ra ở những nơi khác nhau trên thế giới để nhắn nhủ loài người sống theo đường lối của Chúa hoặc để an ủi con cái loài người khi họ gặp khó khăn quẫn bách. Tại Việt Nam năm 1798, Ðức Mẹ hiện ra ở La Vang để an ủi, khích lệ giáo hữu bị bách hại vì đức tin dưới thời Vua Cảnh Thịnh.

Trong khi bị quân lính lùng bắt, ép buộc bỏ đạo, giáo dân kéo nhau chạy trốn vào rừng La Vang, nơi rừng thiêng nước độc, sợ thú dữ, hùm beo, rắn rết. Họ thiếu ăn, thiếu ngủ, lại sợ quân lính rượt bắt. Lúc này Ðức Mẹ hiện ra với nét mặt nhân từ âu yếm yên ủi họ. Theo một truyền thuyết, Ðức Mẹ bảo họ hái lá vằn, giọng Quảng Trị đọc trại ra là lả vằng, nẩu lên mà uổng sẽ hểt bệnh. Lá vằng sau biến thành La Vang. Theo một tương truyền khác, người ta nói miền này có cọp beo, nên khi thấy cọp, dân kêu la lớn tiếng, la lối vang lên để đuổi cọp. Còn theo lập luận của một giáo dân làng Cổ Thạch (1), tỉnh Quảng Trị thì khi người ta la lên, giọng của họ vang dội lại từ núi rừng nên họ gọi nơi này là La Vang, nghĩa là la lên rồi vang lại. Người này đã vào La Vang để thí nghiệm và chứng minh giọng của mình la lên, rồi vang lại từ núi rừng.

Các Giám mục Giáo phận Huế, người Pháp và Việt, đã cho xây Ðền Mẹ La Vang bốn lần sau khi nhà thờ nhỏ bị hư hỏng. Ðền thờ được xây lại lần thứ năm do Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bị tàn phá do chiến tranh vào mùa hè đỏ lửa 1972, Đền thờ được sửa tạm lại do sự giúp đỡ của đồng bào Việt nam hải ngoại để ăn mừng hai trăm năm vào năm 1998.

Từ năm 1901, tượng Ðức Mẹ La Vang đã được phỏng theo tượng Ðức Bà chiến thắng ở Vương Cung Thánh đường Notre Dame tại Ba Lê. Cũng vào năm này, Ðức Cha Gasper đã làm phép thánh tượng La Vang và đặt bổn mạng của thánh đường La Vang là Ðức Bà phù hộ các giáo hữu. Cũng nên biết tước hiệu Ðức Bà phù hộ các giáo hữu đã được Ðức Giáo hoàng Piô V thêm vào Kinh Cầu Ðức Bà.

Ðền thánh La Vang đã được những vị chức sắc đạo đời đến thăm viếng và cầu nguyện như Hoàng Hậu Nam Phương, Hồng Y Spellman là tổng Giám mục Nữu ước, hồng Y Agagianian là Ðặc sứ của Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII và nhiều giám mục Việt Nam bắt đầu từ Ðức Cha Nguyễn Bá Tòng, Giám mục tiên khởi người Việt.

Ðại hội Ðức Mẹ La Vang đã được tổ chức vào những năm 1904, 1914, 1932, 1954, 1961. Năm 1961, Hội Ðồng Giám mục Việt Nam quyết định chọn Thánh đường La Vang làm Ðền thờ toàn quốc dâng kính trái Tim Vô nhiễm Ðức Mẹ và nhận linh địa La Vang làm Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc. Vào cuối Ðại hội La Vang 1961, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII ban Sắc Chỉ nâng Ðền Thờ La Vang lên hàng Vương Cung Thánh đường (2).

Trong dịp tôn vinh 117 vị anh hùng tử đạo tại Việt nam lên hàng hiển thánh vào năm 1988, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc nhở đoàn con Việt Nam sang La mã dự lễ phong thánh đừng quên linh địa La Vang là nơi đã được dâng kính cho Ðức Mẹ.

Trong ngày lễ Các Thánh Tư Ðạo Viêt Nam 1992, Ðức Giáo hoàng còn nói: Cha phó dâng cộng đồng Viêt Nam cho Ðức Trinh nữ, Nữ Vương Các Thánh Tử Ðạo, đã được sùng kính gần 200 năm tại nơi đây với niềm mong ước cho cộng đồng dân Chúa ở đây được sống và lớn lên trong tự do và an bình, để có thể góp phần vào việc xây dựng một xã hội phồn thịnh và phát triển đất nước.

Vào ngày lễ Mẹ lên trời 1993, Ðức Thánh Cha còn nói rõ hơn: Cha phó thác toàn thể cộng đồng dân Chúa tại Việt Nam vào sự chuyển cầu của Ðức Mẹ La Vang. Mẹ là hiền mẫu đã hiện ra năm 1798 để an ủi con cái Mẹ đang bị bách hại dưới triều vua Cảnh Thịnh.

Ðến năm 1994, chính Ðức Giáo hoàng Gioan Phaolô đã làm phép thánh tượng Mẹ La Vang tại quảng trường thánh Phêrô và tượng đó đã được rước đến các cộng đoàn công giáo Việt Nam hải ngoại cho giáo dân kính viếng và cầu nguyện. Năm 1996, Ðức Hồng Y Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh Toà Thánh, nhân danh Ðức Thánh Cha đã gửi đến Ðại Hội Hành Hương La Vang lời chào mừng như sau: Ðức Thánh Cha chia sẻ niềm vui, hiệp thông lời cầu nguyện của cộng đồng dân Chúa tại Tổng Giáo phận Huế và trong cả nước Việt Nam, hiệp thông lời cầu nguyện và niềm vui của các vị chủ chăn, cùng đi với giáo dân tới La Vang, tôn kính và ngợi khen Ðức Trinh Nữ, Ðấng an ủi và nâng đỡ họ trong thời buổi gian nan thử thách. Ðức Thánh Cha cũng khuyến khích các tín hữu sống kiên trung và can đảm.

Năm 1999, một phái đoàn giám mục Hoa Kì thuộc các uỷ ban có liên hệ đến Việt Nam do Ðức Cha Joseph A. Fiorenza hướng dẫn đến thăm Việt Nam và La Vang. Sau khi đọc qua bản tóm lược lịch sử Mẹ La Vang và hiện tình hai quốc gia liên hệ, Ðức Cha Fiorenza, đại diện Hội Thánh Hoa Kì nói: Xin nhận Mẹ La Vang là Mẹ của Hội Thánh và dân tộc Hoa Kì.

Có dịp đến kính viếng và cầu nguyện tại Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm tại thủ đô Mĩ quốc một số lần, linh mục Trần Bình Trọng quan sát thấy nhiều quốc gia trên thế giới có gian nhà nguyện kính Đức Mẹ hay ông thánh nọ bà thánh kia của họ tại đây với mấy dòng lịch sử gắn liền với quê hương họ và lời cầu nguyện vắn tắt cho xứ sở họ. Linh mục đương sự liền khởi xướng ước muốn có gian nhà nguyện kính Mẹ La Vang tại Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Thủ Đô Hoa Kì. Ước muốn khởi xướng được Đức Ông Mai Thanh Lương (sau là Giám mục), Giám Đốc phối trí giữa Hội Đồng Giám mục Hoa Kì và Liên Đoàn Công Giáo Viêt Nam tại Mĩ tán đồng, liền cho khởi sự việc xin phép Hội Đồng Giám Mục Mĩ. Công trình thiết kế được Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kì phối trí với Ban Giám Đốc Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm thực hiện. Phần tài trợ là do giáo dân Việt Nam tại Hoa Kì đảm trách.

Gian nhà nguyện kính Mẹ La Vang được thánh hiến ngày 21 tháng 10, 2006 do Đức Cha Donald W. Wuerl, Tổng Giám mục Hoa Định Đốn và là Chủ tịch của Ban Giám Đốc Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm chủ tế trong thánh lễ, có Đức Cha Mai Thanh Lương, Giám mục phụ tá Orange giảng thuyết, với cả trăm linh mục Việt nam từ nhiều giáo phận Mĩ đồng tế và hơn năm ngàn giáo dân Việt Nam từ nhiều tiểu bang Mĩ tham dự ngay cả từ xa xôi như Massachusetts, Missisippi, Texas, California. Tạ ơn Chúa đây là căn phòng cuối cùng còn trống mà Ban Giám Đốc Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm dành cho Việt Nam cho việc thiết kế gian nhà nguyện kính Mẹ La Vang. Vì không còn phòng trống, nên những quốc gian xin sau đó, chỉ có thể được treo hình Đức Mẹ của họ ở đâu đó trên tường Đền Mẹ Vô Nhiễm mà thôi mà thôi.

Vậy đâu là sứ điệp của Mẹ La Vang? Sứ điệp thứ nhất của Mẹ La Vang là: Các con hãy tin tưởng, hãy vui chịu đau khổ. Sứ điệp thứ hai của Người Mẹ hiền là: Mẹ đã nhậm lời các con cầu xin. Sứ điệp thứ ba của Mẹ La Vang là: Từ nay về sau, hễ ai đến kêu xin Mẹ ở nơi đây, họ sẽ được toại nguyện.

Kinh Thánh Mẫu La Vang:

Lạy Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang, đầy muôn ơn phước, ngời chói hào quang, muôn vàn Thần Thánh không ai sánh bằng. Ðức Chúa Trời đã đoái thương chọn Mẹ, tinh tuyền, thánh thiện, sinh Ðấng Cứu Ðộ muôn đời. Mẹ đã chọn La Vang mà hiện đến, cứu giúp hộ phù tổ tiên chúng con, giữa thời li loạn cấm cách, khốn khổ trăm bề. Từ ấy gót chân Mẹ bước đến, vẫn mãi đầy ơn thiêng: ơn phần hồn, ơn phần xác, người bệnh tật, kẻ ưu phiền, nào ai cầu khẩn mà Mẹ không nhận lời.

Lạy Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang, Mẹ là Thánh Mẫu Chúa Trời, cũng là Thánh Mẫu loài người chúng con. Cúi xin xuống phước hải hà, đoái thương con cái thiết tha van nài. Xin cho chúng con tấm lòng từ bi nhân hậu, đại lượng bao dung, cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống. Xin Mẹ phù hộ chúng con, luôn sống đức hạnh, đầy lòng cậy trông và sau cuộc đời này, xin cho chúng con được về sống bên Mẹ, hưởng vinh phúc trong Chúa Ba Ngôi muôn đời. Amen.

Lm Trần Bình Trọng

_________

  1. Người làm thí nghiệm tiếng người la to, vang lên rồi vọng lại từ núi rừng là Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh, làng Cổ Thạch, Quảng Trị để chứng minh lập luận tại sao linh địa này được mệnh danh là La Vang.
  2. Từ triệt 2 của bài này cho tới hết triệt 5 được viết theo tài liệu của các tác giả: Ð. Ô. Trần Văn Hoài, Ð. Ô. Nguyễn Văn Tài, Lm Trần Văn Kiệm.
Write comment (0 Comments)

Lễ C Ba Ngôi, C: Sống đức tin vào Màu Nhiệm Chúa Ba Ngôi khác việc hiểu biết về Màu Nhiệm

Le_Chua_Ba_Ngoi_C_copyLễ Chúa Ba Ngôi, Năm C

Cn 8:22-31; Rm 5:1-5; Ga 16:12-15

Một trong những đặc tính của loài người là tính tò mò muốn biết sự thật. Có những tính tò mò đã đưa đến những phát minh về khoa học, kỹ thuật, vật lý, có lợi ích cho nhân loại. Có những tính tò mò lại gây thiệt hại đến danh dự tiếng tốt của người khác. Nhiều nhà thần học cũng như triết gia Kitô giáo cũng vì tính tò mò đã tốn nhiều thời giờ suy nghĩ để giải thích tín điều Một Chúa Ba ngôi. Tuy nhiên Thiên Chúa vẫn nằm trong vòng bí ẩn. Trong khi nhận thức rằng có Ba Ngôi Vị trong một Chúa, bởi vì chính Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người đã bầy tỏ cho nhân loại biết như vậy, người ta vẫn không hiểu làm sao có thực thể đó. Không có nhà thần học nào đã hiểu hay sẽ hiểu được làm sao có thể có Ba Ngôi Vị trong một Chúa. Người ta chỉ có thể dùng hình tam giác cân và đều để giải thích về mầu nhiệm Ba ngôi một Chúa. Trong hình tam giác cân và đều, thì ba cạnh và ba góc đều bằng nhau, tượng trưng cho Ba Ngôi Một Chúa. Nếu trí khôn loàì người có thể hiểu được những mầu nhiệm trong đạo thì cái gọi là đạo, không còn phải là đạo nữa, mà chỉ là một triết thuyết hay hệ thống khoa học.

Xem thêm: Lễ C Ba Ngôi, C: Sống đức tin vào Màu Nhiệm Chúa Ba Ngôi khác việc hiểu biết về Màu Nhiệm

Write comment (0 Comments)

CN 19 TN, C: Tỉnh thức và sẵn sàng đợi chờ

CN_19_TN_CChúa Nhật 19 Thường Niên, Năm C

Kn 18:6-9; Dt 11:1-2, 8-19; Lc 12:32-48

Trong đời sống thường ngày, đôi khi người ta phàn nàn hay nghe phàn nàn: Nếu biết trước được sự thể sẽ xẩy ra như vậy, người ta đã đề phòng, để khỏi xẩy ra nông nỗi này. Nếu biết trước được tai nạn xẩy ra, người ta đã thắt đai an toàn, đã thế nọ thế kia khi lái xe. Nếu biết trước được máy bay rớt, người ta đã không đi chuyến bay đó. Sự thật thì người ta không nắm chắc được tương lai và số phận, người ta không lường được chữ ngờ.

Trong Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu kêu gọi loài người phải tỉnh thức và sẵn sàng, chờ ngày Chúa đến. Rồi Chúa kể dụ ngôn khi người chủ nhà đi vắng, thì người đầy tớ khôn ngoan sửa soạn đợi chủ về (Lc 12:36-38). Còn người đầy tớ  không tỉnh thức chờ đợi, nên khi chủ về bị bắt quả tang làm chuyện bất lương, thì thật là vô phúc cho anh ta (c. 45-46). Chúa bảo ta cũng hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút ta không ngờ, thì Con Người sẽ đến (c. 40). Trong thời Cựu ước, việc thiên thần Chúa đến giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ bên Ai cập cũng đã xẩy ra bất ngờ (Kn 18:7). Ai đã là hướng đạo sinh thì hiểu được ý nghĩa của khẩu hiệu: Sắp sẵn hay sẵn sàng của Hướng đạo.

Xem thêm: CN 19 TN, C: Tỉnh thức và sẵn sàng đợi chờ

Write comment (0 Comments)

Lễ CTT Hiện Xuống, C: Thống hối để nhận ơn Chúa Thánh Thần

LE_CTTHX_CLễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Năm C

Cv 2:1-11; Rm 8:8-17; Ga 14:15-16, 23b-26

Trong bữa Tiệc ly Chúa Giêsu phán với các môn đệ: Thày ra đi, thì có ích lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thày không đi, thì Ðấng Phù Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thày đi, Thày sẽ sai Ðấng ấy đến với anh em (Ga 16:7). Người ta có thể tưởng tượng ra tâm trạng của các tông đồ sau khi Chúa về trời. Các ông chắc đã phải cảm thấy cô đơn và lo sợ. Vì thế họ tụ họp nhau lại trong phòng đóng cửa kín mít, vì sợ người Do thái truy nã và tố cáo. Và Mẹ Maria ở giữa họ và cầu nguyện với họ để xin Chúa Thánh thần hiện xuống.

Xem thêm: Lễ CTT Hiện Xuống, C: Thống hối để nhận ơn Chúa Thánh Thần

Write comment (0 Comments)

CN 17 TN, C: Cầu nguyện như Chúa dạy

CN_17_TN_CChúa Nhật 17 Thường Niên, Năm C

St 18:20-32; Cl 2:12-14; Lc 11:1-13

Khi còn tại thế, Chúa Giêsu đã sống đời cầu nguyện để được hiệp nhất với Thiên Chúa Cha. Tới tuổi mười hai, người ta thấy Chúa lên Ðền thờ cầu nguyện cùng với Mẹ Maria và thánh Giuse (Lc 2:46). Chúa Giêsu còn vào hội đường Nadarét cầu nguyện và đọc sách thánh (Lc 4:16-19). Trước khi bắt đầu cuộc sống công khai, Chúa đi vào hoang địa để ăn chay và cầu nguyện suốt bốn mươi ngày (Lc 4:2). Trước khi dùng bữa hoặc làm phép lạ, người ta cũng thấy Chúa cầu nguyện (Lc 9:16; Lc 22:17, 19; Lc 24:30). Người ta còn thấy Chúa cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-ni, xin với Chúa Cha cho khỏi uống chén đắng, nghĩa là khỏi chịu khổ hình thập giá, nhưng xin vâng theo ý Chúa Cha (Lc 22:41-42). Trên thánh giá Chúa cầu nguyện xin Chúa Cha tha thứ cho những người đóng đinh mình vì họ không biết việc họ làm (Lc 23:34).

Xem thêm: CN 17 TN, C: Cầu nguyện như Chúa dạy

Write comment (0 Comments)

CN 6 PS, C: Bình an Chúa hứa ban, nhân loại không ban nổi

CN_6_PS_CChúa Nhật 6 Phục Sinh, Năm C

Cv 15:1-2, 22-29; Kh 21:10-14, 22-23; Ga 14:23-29

Khi Chúa Cứu thế giáng sinh tại Bêlem, các thiên thần ca hát vang dội: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm (Lc 2:14). Khi sai các môn đệ đi rao giảng tin mừng cứu độ, Chúa dặn họ chúc bình an cho nhà mà họ vào (Lc 10:5). Khi giã từ các môn đệ như Phúc âm hôm nay ghi lại, Chúa hứa ban bình an cho các ông (Ga 14:27). Khi sống lại từ cõi chết, lời đầu tiên của Chúa nói với các môn đệ là lời chào bình an (Lc 24:36; Ga 20:19, 21, 26). Ðôi khi ta tự hỏi: tại sao Chúa Cứu thế đến hứa ban bình an mà nhân loại vẫn phải chịu cảnh chiến tranh bạo động? Theo dòng lịch sử nhân loại, chiến tranh đã xẩy ra liên tiếp giữa các quốc gia, phe nhóm, bộ lạc khi những vấn đề tranh chấp không được giải quyết cách ổn thoả.

Xem thêm: CN 6 PS, C: Bình an Chúa hứa ban, nhân loại không ban nổi

Write comment (0 Comments)

Chuyên mục phụ

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm A đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm B đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm C đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Dương Lịch & Âm Lịch