Tác giả  Lữ Giang biên soạn và Gia Đình “Vui Mừng và Hy Vọng” ấn hành năm 2008 (10.000 cuốn) về  con người và cuộc đời của Hồng Y Nguyễn Văn Thuận từ một linh mục giáo xứ Tam Toà ở Đồng Hới, Quảng Bình,

đến Giám Mục Nha Trang, rồi Phó Tổng Giám Mục Sài Gòn, bị tù cải tạo, lưu đầy sang Rôma, được phong chức Hồng Y, làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Đức Tin.

-------------------------------------------------------

Vài dòng về ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Do Lữ Giang biên soạn & Gia Đình “Vui Mừng và Hy Vọng” ấn hành năm 2008

(10.000 cuốn)

 Mục lục

Mở đầu:  Cha lại đi thêm một quãng đường

1.-  Khởi đầu từ giáo xứ Tam Tòa

2.-  Ra khỏi cơn hoạn nạn và đi lên   

3.-  Giám Mục Nha Trang

4.- Trở thành Phó Tổng Giám Mục Sài Gòn trong cơn sóng gió

5.-  Cuộc hành trình dài và gian khổ

6.-  Một sự quan phòng

7.-  Giai đoạn bị quản chế tại Giang Xá

8.-  Đi vào chỗ chết

9.-  Bị buộc rời khỏi Việt Nam

10.- Con đường đi lên

11.- Thành lập Cộng Đồng La Vang

12.- Chiếc áo Hồng Y

13.- Omnia vincit amor

14.- Những ngày cuối cùng

15.- Tự nhìn lại cuộc đời mìmh

- Phụ đính I: Tiến trình phong Thánh

- Phụ đính II: Kinh xin ơn

 Cha lại đi thêm một quãng đường...

Những lời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận viết cách đây 33 năm, lúc ngài mới bị đưa đến quản thúc tại giáo xứ Cây Vong, giờ đây nếu đọc lại, chúng ta sẽ thấy đây là lời tiên tri về cuộc đời của ngài:

Cha lại đi thêm một quãng đường,

Chông gai, mịt mù và vô định.

Trên đường Cha gặp lắm lữ khách,

Cha đã xem tất cả là bạn,

Xem mọi biến cố là kinh nghiệm quý báu,

Vì tất cả là hồng ân...

Hôm 19.6.2006, ĐHY Renato Martino, Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình, thông báo Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đãõ chấp thuận cho Hội Đôàng này đứng ra xúc tiến việc mở án phong Chân Phước cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Nhân dịp này, chúng tôi xin ghi lại những nét về cuộc đời của ngài hoặc do chúng tôi biết, hoặc qua những lời do chính ngài tường thuật lại, hoặc qua các tài liệu tham khảo, hoặc qua lời tường tường thuật của một số nhân chứng, v.v, Nhưng đây không phải là công việc dễ dàng.

Tôi đã từng sống và làm việc với ĐHY Nguyễn Văn Thuận từ khi ngài đến nhận nhiệm sở đầu tiên ở giáo xứ Tam Tòa, Quảng Bình, vào năm 1953, sau khi ngài vừa chịu chức Linh mục.

Năm 1967, khi ngài được chọn làm Giám Mục Nha Trang, tôi đã có chút địa vị trong xã hội, có quan hệ chặt chẽ với nhiều cơ quan, và được nhiều người biết đến qua những bài viết trên các tờ Thẳng Tiến, Hòa Bình, Chính Luận... Do đó, khi có biến cố gì quan trọng xẩy ra, ngài thường vào Saigòn, cư ngụ ở Dòng Chúa Cứu Thế hay nhà của thân phụ ngài ở đường Phan Thanh Giản, ngay sát bên cạnh nhà của ông già vợ tôi, và gọi tôi đến trao đổi tin tức. Có khi tôi ra Nha Trang thông báo cho ngài những tin tức quan trọng mà tôi nhận được. Sau khi ra hải ngoại, ngài cũng thường liên lạc với tôi để trao đổi tin tức.

Tôi nhớ lại, năm 1999, khi in xong cuốn “Những bí ẩn đàng sau cuộc chiến Việt Nam”, Quyển I, trong đó có nói về dòng họ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tôi có gởi biếu ngài. Khi đến Orange County, thấy tôi đứng ở xa, ngài đã chạy tới ôm chầm lấy và hỏi: “Chú mi lấy tài liệu ở mô mà viết đầy đủ như rứa?” Hồi còn nhỏ, ngài thường gọi tôi bằng “chú mi”. Khi tôi có chút địa vị trong xã hội, ngài không gọi bằng “chú mi” nữa mà gọi bằng tên, nhưng thỉnh thoảng cũng quen miệng kêu “chú mi”!

Đối với tôi, viết về gia đình họ Ngô không khó lắm. Hồi nhỏ, tôi thường nghe những người lớn trong làng kể nhiều lần vềà biến cố kinh hoàng xẩy ra năm Ất Dậu cho các giáo xứ tại Quảng Bình, trong đó có giáo xứ Đại Phong và gia đình cụ Ngô Đình Khả. Vì thế, sau khi tham khảo tài liệu trong các văn khố, tôi hỏi lại một số người lớn tuổi trong làng còn sống sót, họ đã kể thêm cho tôi nghe nhiều chi tiết hữu ích và thích thú. Sau này, ĐHY Nguyễn Văn Thuận có kể cho tôi thêm nhiều chi tiết quan trọng mà thân mẫu ngài đã kể lại, để tôi có thể viết đầy đủ hơn.

Lúc ở Roma, mỗi khi rảnh, nhất là ban đêm, ngài thường gọi điện thoại kể lại cho tôi nghe những chuyện đã xẩy ra trong những năêm tháng ngài bị tù đày hay quản chế, như giai đoạn ở trại Thanh Liệt, khi bị quản chế ở giáo xứ Giang Xá, nhất làø chuyện ngài phải đi mổ tuyến tiến liệt ở nhà thương Hà Nội... với ước muốn sau này tôi sẽ ghi lại các biến cố đó.

Tuy nhiên, vào cuối năm 2000, khi hay tin Đức TGM Nguyễn Văn Thuận sắp được tấn phong Hồng Y, tôi đã hoàn thành một cuốn sách dày khoảng 300 trang, kể lại cuộc đời hoạt động của ngài như một chứng nhân đã sống đời tận hiến để phục vụ Thiên Chúa và nhân loại, và dự tính sẽ cho phổ biến vào ngày 21.1.2001, ngày ngài được tấn phong Hồng Y. Nhưng việc này đã không thực hiện được.

Trước khi cho in, tôi đã gởi bản thảo cuốn sách nói trên nhờ ngài đọc qua, xem có chi tiết nào sai hay cần bổ túc thêm không. Sau khi xem, ngài đã gọi điện thoại cho tôi và nói: “Ở ngoài này tự do, mình muốn viết gì thì viết, nhưng không thể không quan tâm đến sự an nguy của những người có tên trong sách hiện đang sống trong nước, như..., Nếu vì những điều mình công bố mà họ bị chuyện gì thì mình sẽ phải ân hận”. Theo ý kiến của ngài, có rất nhiều chi tiết phải đợi đến khi tình hình thuận tiện hơn mới có thể phổ biến.

Trước lời khuyến cáo này, tôi phải ngưng cho in cuốn sách nói trên và thay thế bằng một tập ký sự đặc biệt, trình bày cuộc đời của ngài bằng những hình ảnh sống động từ nhỏ cho đến ngày được phong Hồng Y, với một số lời và bài dẫn giải ngắn.

Hôm nay, ngồi ghi lại những dòng này, tôi cũng chỉ trình bày những điểm có thể công bố được. Những chi tiết khác, chúng tôi sẽ phổ biến khi tình thế cho phép.

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17.4.1928 tại Phủ Cam, Huế, trong một gia đình có 8 người con. Thân phụ ngài là cụ Nguyễn Văn Ấm, thuộc dòng tộc quyền quý ở Huế. Thân Mẫu ngài là cụ bà Ngô Đình Thị Hiệp, em của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Năm 1939, dưới sự bảo trợ của Đức Giám Mục Ngô Đình Thục, ngài đã vào học ở Tiểu Chủng Viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị, và năm 1947, ngài được vào học Đại Chủng Viện Phú Xuân, Huế. Ngài được Đức Cha Urritia, Giám Mục Giáo Phận Huế, tấnï phong Linh mục ngày 11.6.1953 cùng với 4 thầy khác là Trần Thanh Minh, Nguyễn Văn Trinh, Nguyễn Phùng Tuệ và Nguyễn Văn Trông. 

I.- KHỞI ĐẦU TỪ GIÁO XỨ TAM TÒA

Sau khi chịu chức, Linh mục Nguyễn Văn Thuận  được bổ nhiệm làm Linh mục Phó giáo xứ Tam Tòa, một giáo xứ lớn nhất ở Quảng Bình, nằm ngay trong thị xã Đồng Hới. Tháng 8 năm 1953 ngài đến Tam Tòa nhận chức. Đây là lần đầu tiên tôi được gặp ngài. Tôi nhớ lúc đó, giáo xứ Tam Tòa có đến 5 linh mục: Chánh xứ là Linh Mục Hoàng Văn Tâm; Phó xứ I: Linh Mục Trần Văn Cần (phong chức năm 1951); Phó xứ II: Linh Mục Đỗ Bá Ái (cũng phong chức năm 1951), và Phó xứ III: Linh mục Tri (tôi không nhớ rõ họ và nay ngài đã qua đời). Ngoài bốn linh mục nói trên, còn có Linh Mục Georges Neyroud, tuyên úy Quân Đội Pháp. Linh Mục Thuận là người được cử đến thay thế Linh Mục Tri mới đưộc thuyên chuyển về Thừa Thiên.

Nhà xứ Tam Tòa được Linh Mục Réné Toussaint Morineau (Cố Trung) xây cất năm 1940, rất khang trang, trong một khu vườn rộng sát nhà thờ. Ngôi nhà chính dành cho các linh mục là một nhà lầu kiên cố có 2 tầng, tầng trên và tầng dưới đều có 3 phòng, nhưng vì có phòng được dùng làm phòng ăn và phòng khách, lại thêm Linh mục Georges Neyroud, tuyên úy Quân Đội Pháp, đến ở chung nên không còn phòng. Vì thế, khi Linh mục Tri đến làm phó xứ, ngài phải ở phòng họp, không được tiện nghi lắm. Đây là một căn nhà ngang, có hai phòng, một phòng dành để tập hát và một phòng dành làm phòng họp. Vì Linh Mục Tri đã phải ở phòng họp nên Linh mục Thuận đến thay ngài cũng phải ở phòng đó.

Lúc đó ngài cao và gầy, trông không được khỏe mạnh lắm. Nhìn hình ảnh của ngài lúc đó, không ai nghĩ rằng con người này ngày sau sẽ trở thành một Hồng Y, giữ một chức vụ quan trọng tại Tòa Thánh Vatican. Vì ngài có vẻ ốm yếu, Linh Mục chính xứ chỉ giao cho ngài dạy giáo lý cho các trẻ em và phụ trách một số bài giảng trong thánh lễ. Ngài rất hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ và thỉnh thoảng hay nói đừa, nên ai cũng thích.

Khuôn viên nhà cha xứ Tam Tòa là một khu vườn tuyệt đẹp và rộng mênh mong, nằm ngay trên bờ sông Nhật Lệ, nhìn về phía đàng xa kia là biển. Chúng tôi thường tới sinh hoạt hướng đạo tại đó. Vào những buổi chiều trăng lên, nhất là vào mùa Hạ và mùa Thu, chúng tôi hay đến ngồi quanh cái bàn đá sát bờ sông để thưởng trăng. Đôi khi Linh mục Thuận cũng ra trò chuyện với chúng tôi. Bây giờ khung cảnh đó chỉ còn trong trí nhờ, vì toàn thể thành phố Đồng Hới đã bị máy bay Mỹ san bằng trong chiến tranh. Sau khi đi tù về, tôi trở lại Đồng Hới năm 1987, không thấy còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào. Tôi không thể tưởng tượng được ngôi trường mà tôi đã học lúc còn nhỏ nằm ở khu nào.

Trong các sinh hoạt, Linh mục Nguyễn Văn Thuận luôn cố gắng đi theo chúng tôi, nhưng hình như ngài không thể theo kịp vì sức khỏe quá yếu. Đầu năm 1954, ngài đã phải rời Tam Tòa để vào Huế chữa bệnh.

Tuy thời gian ở Quảng Bình không dài, nhưng ngài nói với tôi ngài có những kỷ niệm sâu đậm ở đây, vì lúc nhỏ thân mẫu ngài thường kể cho ngài nghe những câu chuyện đau thương đã xẩy ra cho giáo xứ Đại Phong, huyện Phong Lộc (sau thành Lệ Thủy), tỉnh Quảng Bình, trong thời kỳ Văn Thân và tại sao một phần Nhà Ngô phải di cư vào Thừa Thiên. Tại Tam Tòa, lúc đó cũng đang có một nhánh của dòng họ Ngô sinh sống. Nhờ được cửû đến làm phó xứ Tam Tòa, ngài đã gặp lại được một số bà con ở bên ngoại mà ngài rất ít biết, và được thăm những nơi đã xẩy ra các biến cố mà thân mẫu ngài thường kể cho ngài nghe. Câu chuyện đã được ngài thuật lại cho tôi theo sự tườg thuật của thân mẫu ngài như sau:

Sau cuộc chính biến đêm 22 rạng ngày 23 tháng tư năm Ất Dậu (1885) tại kinh thành Huế, Triều Đình quyết định đưa vua Hàm Nghi ra Quảng Trị, rồi sau đó đưa đến huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, có Tôn Thất Thiệp và Nguyễn Phạm Tuân theo phò vua. Phong trào Cần Vương do Văn Thân lãnh đạo nổi lên tàn sát người công giáo và đốt phá các làng công giáo. Tất cả các giáo xứ ở Quảng Bình như Sáo Bùn, Trung Quán, Mỹ Hương, Mỹ Định, Mỹ Trạch, Đại Phong, v.v. đều bị tiêu diệt. Văn Thân lùa giáo dân vào các nhà thờ rồi lấy lửa đốt luôn nhà thờ. Chỉ có một số ít chạy thoát được.

Sau khi giáo xứ Đại Phong bị thiêu hủy, dòng họ nhà Ngô còn sống sót được chia ra hai nhánh: Nhánh cụ Ngô Đình Khả chạy vào Thừa Thiên và đến định cư ở Bãi Dâu. Nhánh cụ Ngô Đình Quyền, anh cụ Ngô Đình Khả, chạy về Đồng Hới, tỉnh lỵ Quảng Bình hiện nay. Tại đây, họ gặp một số giáo dân còn sống sót của các giáo xứ Sáo Bùn, Mỹ Hương, Mỹ Định, v.v. cũng đang trốn tránh. Cuối năm 1886, khi phong trào Văn Thân đã bị dẹp tan, Linh mục Bonin đã họp các nhóm giáo dân chạy tán loạn lại và thành lập một giáo xứ mới, lấy tên là giáo xứ Tam Tòa, ở trên bờ sông Nhật Lệ, ngay phía bắc thành Đồng Hới.

Gia đình cụ Ngô Đình Quyền quay về Đại Phong, xây dựng lại giáo xứ và nhà thờ, nhưng một người con của cụ là ông Ngô Đình Miều và gia đình định cư luôn tại Tam Tòa.

Cô Ngô Đình Thị Tiến, em ruột cụ Ngô Đình Khả, lúc đó khoảng 12 tuổi, may mắn sống sót trong vụ Văn Thân đốt nhà thờ Đại Phong, trong một trường hợp rất lạ lùng. Khi Văn Thân đến vây giáo xứ Đại Phong, một số giáo dân chạy vào nhà thờ, một số chạy ra đồng hay các làng chung quanh để ẩn trốn. Văn Thân đến vây nhà thờ, chận ở các cửa, ai ra thì chém. Sau đó, Văn Thân nổi lửa đốt nhà thờ.

Theo cô Tiến kể lại, khi lửa đang cháy bên ngoài, giáo dân bình tĩnh đọc kinh cầu nguyện. Linh mục chính xứ đứng giữa Cung Thánh hướng dẫn giáo dân cầu nguyện. Tro từ trên nóc nhà thờ đổ xuống như mưa, khói tỏa mịt mù. Linh mục chính xứ đã lấy một cái thúng đội lên đầu, tiếp tục đứng cổ võ giáo dân giữ vững đức tin, cho đến khi ngài ngã quỵ vì bị ngộp thở. Khi thấy tiếng kinh không còn nữa, Văn Thân biết mọi người trong nhà thờ đã ngã gục, liền mở cửa vào nhà thờ lục soát, thấy ai còn sống thì chém cho chết. Lúc đó vì còn nhỏ, cô bị đè bẹp dưới xác của những giáo dân người lớn, nên Văn Thân không thấy. Khi Văn Thân rút đi, chờ đêm tối cô bò ra khỏi khu nhà thờ, nhưng không dám tìm về nhà mà đến một nhà quen không công giáo xin ẩn trốn. Bà chủ nhà có hai người con cũng theo Văn Thân đi đốt phá các làng công giáo nên rất sợ. Khi thấy hai người con cùng với những người khác đến lục soát ở khu gần đến nhà bà, bà bảo cô Tiến lội xuống dưới ao, rồi bà lấy bèo phủ lên. Văn Thân đi qua bờ ao, có thọc mũi giáo xuống ao tìm kiếm, cô bị ngọn giáo đâm trúng ở trán, nhưng Văn Thân không biết, nhờ vậy cô đã sống sót. Sau này người ta vẫn còn thấy một vết thẹo dài trên trán cô.

Khi phong trào Văn Thân bị dẹp tan, cô đã tìm lại được gia đình ông Ngô Đình Miều và theo gia đình này ra ở giáo xứ Tam Tòa mới thành lập. Năm 1888, Linh mục Bonin lập Dòng Mến Thánh Giá Tam Tòa. Dòng này làø hậu thân của Dòng Mến Thánh Giá ở Mỹ Hương đã bị Văn Thân đốt năm 1885. Cô Tiến đã xin đi tu ở Dòng này và về sau được thăng lên chức Bề Trên của Dòng.

Những giáo dân quay trở lại Đại Phong đã góp tiền bạc xây lại nhà thờ Đại Phong đẹp hơn nhà thờ cũ, nhưng vì số giáo dân trở lại lập cư quá ít nên được Đức Giám Mục Giáo Phận sát nhập vào giáo xứ Mỹ Phước ở gần đó. Nhà thờ Đại Phong sau đó được gỡ ra và bán cho một giáo xứ ở Huế.

Kỷ niệm này được ngài kể đi kể lại cho tôi nghe rất nhiều lần, nên tôi biết ngài rất trân trọng.

II.- RA KHỎI CƠN HOẠN NẠN VÀ ĐI LÊN

Tháng 8 năm 1954 tôi đến Huế thăm ngài thì được biết ngài đang nằm trong bệnh viện. Gặp ngài, tôi thấy ngài rát ốm yếu, nhưng vẫn hoạt động. Mặc đầu đang nằm ở bệnh viện, ngài được cử làm Tuyên Úy Bệnh Viện Huế kiêm Tuyên Úy Lao Xá Thừa Thiên. Tuy nhiên, sau đó nhờ “một phương thuốc nhiệm mầu”, ngài lành bệnh và khỏe mạnh dần.

Sau khi lành bệnh, ngài được cử đi làm Phó xứ Phanxicô Xaviê, Huế, một giáo xứ của người Pháp do Linh mục Darbon (cố Triết) làm chánh xứ. Sau khi người Pháp về nước và Linh mục Darbon rời giáo xứ này, ngài biến giáo xứ Phanxicô Xaviê thành một giáo xứ Việt Nam và được cử làm quản xứ giáo xứ này, kiêm Tuyên Úy Lao Xá Thừa Thiên, Tuyên Úy Trường Pellerin, Tuyên Úy Bệnh Viện Huế. Năm 1955 ngài lập Tráng Đoàn La Vang. 

Năm 1956, ngài được cho qua Roma theo học Phân khoa Giáo luật thuộc Đại Học Giáo Hoàng Urbaniana của Bộ Truyền Giáo từ năm 1956 đến 1959. Ngài đã đậu tiến sĩ Giáo luật năm 1959 với luận án “Tuyên úy quân đội trên thế giới”. với kết quả “maxima cum laude”

Năm 1959, ngài trở về Huế và được cử giữ những chức vụ quan trọng sau đây:

- Năm 1960 làm Giám Đốc Tiểu Chủng Viện Phú Xuân, Huế.

- Năm 1962, Tiểu Chủng Viên Hoan Thiện được thành lập trên cánh đồng An Cựu, ở đường Đống Đa, ngài được cử làm Giám Đốc Tiểu Chủng Viện này.

Chụp hình chung với các chủng sinh Hoan Thiện

- Năm 1964, ngài được cử Kiêm Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế.

Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, Linh mục Nguyễn Văn Thuận tuy thuộc dòng họ Ngô, có bằng tiến sĩ luật, làm giáo sư rồi giám đốc tiểu chủng viện ở Huế, nhưng ít ai chú ý đến ngài, vì ngài thuộc về bên ngoại và trên ngài còn có nhiều vị quyền thế khác.

Sau này, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, những biến loạn liên tiếp xẩy ra tại miền Trung, vai trò của ngài bỗng trở nên quan trọng.

Ngày 9.4.1966 Tướng Tôn Thất Đính được cử làm Tư Lệnh Vùng I thay thế Tướng Nguyễn Văn Chuân với nhiệm vụ giải quyết các vụ biến loạn miền Trung. Nhưng khi đến Huế, Tướng Đính chẳng những không giải quyết được gì mà còn đứng về phe Thượng Tọa Thích Trí Quang, làm cho tình hình rối loạn tăng thêm. Các tổ chức “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”, “Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng” và “Đoàn Phật Tử quyết tử”, tức “Chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức” được thành lập để chống lại Quân Đội VNCH, các đảng phái quốc gia và người Công Giáo. Nấp dưới danh nghĩa Phật Giáo, các nhóm này lộng hành tại Huế và Đà Nẵng, chẳng coi chính quyền và luật pháp ra gì. Sau khi ba giáo xứ Thanh Bồ, Đức Lợi và Tam Tòa ở Đà Nẵng bị tấn công, các giáo xứ tại Huế cũng chuẩn bị để đối phó. Lực lượng nổi dậy đã đánh phá giáo xứ Giạ Lê (Phù Lương). Nhưng nhờ sự dàn xếp khéo léo giữa Linh mục Nguyễn Văn Thuận, lúc đó đang giữ chức Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế, với Thượng Tọa Thích Trí Quang, cuộc chiến đẫm máu giữa hai bên đã không xẩy ra. Từ đó, uy tín của ngài cứ lên dần. Khi nghe tin quân đội và cảnh sát từ Đà Nẵng đang tiến ra Huế, Tướng Tôn Thất Đính đã vào nấp trong Tiểu  Chủng Viện Hoan Thiện và nhờ Linh mục Nguyễn Văn Thuận che chở.

III.- GIÁM MỤC NHA TRANG

Kể từ 1844, thành phố Nha Trang, Tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận thuộc Giáo Phận Đàng Trong -  Quy Nhơn. Ngày 3.7.1957 Tòa Thánh lập một giáo phận mới với danh xưng là Giáo Phận Nha Trang, gồm thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, và hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy vốn thuộc Giáo Phận Sài Gòn. Giáo phận mới này được đặt dười quyền lãnh đạo của Đức Giám Mục Marcel Piquet (1888- 1966), thường được gọi là Cố Lợi. Ngày 11.7.1966, Đức Cha Piquet qua đời.

Ngày 4.5.1967, Tòa Thánh giao Giáo Phận Nha Trang lại cho các giáo sĩ Việt Nam và bổ nhiệm Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận làm Giám Mục Chính Tòa Giáo Phận này.

Ngày 24.6.1967, lúc 5 giờ chiều, Linh Mục Nguyễn Văn Thuận đã được Đức Khâm Sứ Tòa Thánh Angelo Palmas tấn phong Giám Mục tại Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện, Huế, với sự phụ tế của hai Đức Giám Mục Nguyễn Kim Điền và J.B. Urrutia. Ngài chọn khẩu hiệu là “Vui Mừng và Hy Vọng” (Gaudium et Spes). Đây là hai chữ đầu của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay. Về sau, ngài đã triển khai triệt để khẩu hiệu này trong các tác phẩm của ngài:

- Đường Hy Vọng (viết năm 1975 khi bị quản thúc ở Cây Vong, Nha Trang).

- Đường Hy Vọng dưới ánh sáng của lời Chúa và Công Đồng Vatican II (viết năm 1979 tại Giang Xá, Hà Nội).

- Những người lữ hành trên đường Hy Vọng (viết năm 1980 tại Giang Xá, Hà Nội).

“Vui tươi và làm cho mọi người đến với con cũng cảm thấy bầu không khí vui tươi, mặc dù lòng tan nát. Đó là thánh thiện hơn mọi sự ăn chay hãm mình.”

 “Người công giáo là ánh sáng giữa đêm tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng.” 2

Trong những bài giảng tĩnh tâm cho Đức Thánh Cha và Giáo Triều Roma vào Mùa Chay Năm Thánh 2000, ngài cũng đã tập trung mọi suy niệm vào niềm hy vọng của dân Chúa và thế giới ngày nay với các chủ đề “Cuộc phiêu lưu của hy vọng”, “Hy vọng trong thất vọng”, “Dân tộc của hy vọng”, và “Canh tân niềm hy vọng trong chúng ta”. Trong bài giảng ngày 12.3.2000 ngài nói:

“Ngày nay, hy vọng có lẽ là thách đố lớn nhất. Charles Péguy thường nói: “Đức tin mà tôi thích nhất là hy vọng.” Đúng vậy, bởi vì trong hy vọng, đức tin được biểu lộ qua việc bác ái, mở ra con đường mới đi vào tận tâm hồn của con người. Đức tin đó hướng người ta đến việc xây dựng một thế giới mới, một nền văn minh tình thương và dẫn đưa cả thế giới đến tận hưởng cuộc sống thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa.”

Ngài đã kết thúc cuộc tĩnh tâm bằng câu:

“Chúa Giêsu nói với người Do Thái: “Abraham Tổ Phụ các ông vui mừng và hy vọng được thấy ngày của ta; ông đã thấy và vui mừng” (Jn 8,56).

Nói chuyện với giáo dân khi mới đến

nhận chức Giám Mục Nha Trang

Ngày 10.7.1967 ngài đến nhận chức Giám Mục Giáo Phận Nha Trang dưới quyền chủ tọa của Đức Khâm Sứ Angelo Palmas. Trong 8 năm làm Giám Mục Giáo Phận Nha Trang (từ 10.7.1967 đến 23.4.1975), ngoài việc điều hành giáo phận, ngài đã cho phát triển mạnh các phong trào sau đây nhắm đưa tinh thần của Công Đồng Vatican II vào đời sống của mỗi người tín hữu và trong đời sống xã hội:

- Thành lập Hội Đồng Giáo Dân gồm 1200 vị được bầu từ cấp giáo xứ, giáo hạt và giáo phận.

- Thành lập Phong Trào Học Hội Kitô Giáo.

- Thành lập Trung Tâm Văn Hóa Chàm năm 1968, ấn hành thánh kinh bằng tiếng Reuglai và tự điển Chàm – Việt – Pháp.

- Thành lập Ban Công Lý và Hòa Bình ngày 1.1.1969,

- Phong Trào Cursilos và Phong Trào Focolare.

- Công bố “Quy Chế Giáo Dân”.

- Phát hành tuần báo Dấn Thân

Trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngài đã giữ các chức vụ sau đây:

- Chủ Tịch Ủy Ban Truyền Thông Xã Hội (1967 - 1975)

- Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển (1967 - 1975)

Đối với Giáo Hội hoàn vũ, ngài là Cố Vấn Ủy Ban Giáo Hoàng về Giáo Dân (1971 - 1975).

Đặc biệt, ngài đã đại diện Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đến Manila dự Hội Nghị Giám Mục Á Châu ngày 24.11.1970. Trong hội nghị này, ngài đã đại diện Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trình bày đề tài “Các vấn đề chính trị tại Á Châu và những giải pháp liên hệ.” để giúp các Giáo Hội Á Châu dự phóng con đường truyền giáo có thể triển khai trong nhiều thập niên. Trong đề tài này, ngài đã đưa ra những nhận định về những đặc tính căn bản của tình hình chính trị tại Á Châu lúc đó, những biến động có thể xẩy ra và những chiều hướng mới đang xuất hiện tại vùng này, đồng thời nêu lên những triển vọng mà các nước Á Châu có thể đạt tới. Bài nhận định này tuy đã được đưa ra cách đây hơn 38 năm, nhưng mỗi khi đọc lại chúng ta vẫn còn có thể tìm thấy ở trong đó những yếu tố căn bản mà chúng ta không thể không biết đến khi muốn đưa Tin Mừng đến tại vùng này.

IV.- TRỞ THÀNH PHÓ TỔNG GIÁM MỤC SÀI GÒN TRONG CƠN SÓNG GIÓ

Một biến cố trong tháng 4 năm 1975 đã đưa Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận vào những ngày bi thảm nhất của cuộc đời ngài, nhưng cũng từ đó ngài đã bước lên những địa vị quan trọng sau này trong Giáo Hội. Đây là một biến cố mà chính tôi là người đã chứng kiến và theo dõi rất sát.

Vào tháng 4 năm 1975, khi đoán biết miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình đã 5 lần đề nghị Đức Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Henri Lemaitre, xin Tòa Thánh cử Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám Mục Saigon với hy vọng sự khôn ngoan của ngài có thể đưa Giáo Hội Việt Nam vượt qua những cơn khó khăn sắp đến. Cuối cùng, chiếu theo đề nghị của Đức Khâm Sứ, ngày 23.4.1975 Tòa Thánh đã phong Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám Mục hiệu tòa thành Vadesitana, và ngày 24.4.1975 cử ngài giữ chức Phó TGM Giáo Phận Saigon với quyền kế vị. Đức TGM Nguyễn Văn Bình nghĩ rằng nếu tình hình quá khó khăn, ngài sẽ từ chức và trao quyền lại cho Đức TGM Nguyễn Văn Thuận. Đây là một biến cố đã đưa ngài vào một khúc quanh mới của lịch sử dân tộc và lịch sử giáo hội,

Đước tin nói trên, ngày 8.5.1975, một nhóm Linh mục đã gởi đến Đức TGM Nguyễn Văn Bình một kiến nghị yêu cầu hoãn bổ nhiệm ĐGM Nguyễn Văn Thuận làm TGM Phó. Kiến nghị này do các Linh mục sau đây ký tên: Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng, Nguyễn Quang Lãm, Hoàng Kim, Huỳnh Công Minh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Đinh Bình Định, Nguyễn Thiện Toàn, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Nghị.

Mặc dầu có sự phản đối nói trên, ngày 12.5.1975 Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn thông báo cho các giáo xứ trong giáo phận biết Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Giám Mục Giáo Phận Nha Trang, đã được Tòa Thánh bổ nhiệm làm TGM Phó với quyền kế vị của TGP Sài Gòn vào ngày 24.4.1975. Và ngày 12.5.1975 Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đã đến nhận nhiệm vụ mới.

Ngay lập tức, các Linh mục Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng, Nguyễn Quang Lãm và Hoàng Kim đã đến Chủng Viện Thánh Giuse ở đường Cường Để, Sài Gòn, chất vấn Đức TGM Nguyễn Văn Bình và yêu cầu Đức Phó TGM Nguyễn Văn Thuận từ chức.

Ngày 13.5.1975, một nhóm sinh viên công giáo đã xâm nhập Tòa Giám Mục Saigon, căng lên những biểu ngữ sau đây:

- Nguyễn Văn Thuận, Giám Mục của ai?

- Vì quyền lợi của Giáo Hội Việt Nam, yêu cầu Nguyễn Văn Thuận từ chức.

- Không có hòa giải, Nguyễn Văn Thuận phải rút lui.

Ngoài ra, nhóm này cũng gởi đến Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre một văn thư nói rằng “Mỹ - Thiệu và tay sai đã dẫm lên nhau chạy trốn, sự bổ nhiệm một Giám Mục chống Cộng tại Saigon là một điều nguy hiểm không những cho Giáo Hội mà cho cả dân tộc Việt Nam”. Họ yêu cầu Đức TGM Nguyễn Văn Thuận từ chức để “tránh cho Giáo Hội và dân tộc Việt Nam những phiêu lưu vô vọng và nguy hiểm”.

Ngày 14.5.1975, một đoàn biểu tình do Đoàn Phú Khánh cầm đầu, đã xâm nhập Tòa Khâm Sứ của Tòa Thánh ở đường Hai Bà Trưng, trèo lên nóc nhà hạ cờ Tòa Thánh xuống và căng biểu ngữ đòi Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre phải cút đi. Họ đẩy một linh mục người Ba Lan và linh mục Trần Ngọc Thụ ra khỏi Tòa Khâm Sứ. Trong khi đó, Linh mục Huỳnh Công Minh đứng chụp hình và Linh mục Thanh Lãng phát bản tuyên cáo. Ngày 3.6.1975, họ đến phá Tòa Khâm Sứ một lần nữa. Được tin này, các thanh niên công giáo thuộc giáo xứ Bùi Phát ở đường Trương Minh Giảng đã kéo lên. Nhưng khi các toán thanh niên này mới đến đầu cầu Trương Minh Giảng thì bộ đội đã xả súng bắn vào họ, một người bị chết và nhiều người bị thương. Linh mục Vũ Bình Định, Phó xứ Bùi Phát đã bị bắt ngay sau đó.

Trước sự chống đối này, ngày 7.6.1975 Đức TGM Nguyễn Văn Bình đã gởi cho các linh mục và giáo dân một văn thư, trong đó có những đoạn như sau:

“Tôi đã hết sức ôn hòa, lắng nghe và thông cảm đồng thời giải thích trực tiếp hoặc gián tiếp cho những ai muốn đối thoại với tôi về những sự việc trên. Nhưng tình trạng ấy chưa khả quan hơn.”

Sau đó, ngài kêu gọi:

“Tôi kêu gọi tất cả quý cha, các tu sĩ nam nữ và toàn thể giáo dân sẵn sàng tuân phục hoàn toàn quyết định của Tòa Thánh La Mã”.

Ngày 18.6.1975, Đức TGM Nguyễn Văn Bình đã gởi cho Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một văn thư yêu cầu ba điểm sau đây:

1) Triệt để thi hành Sắc Lệnh Tự Do Tín Ngưỡng và chính sách 10 điểm của chính phủ để gây tin tưởng và phấn khởi nơi toàn dân đối với chính phủ.

2) Chấm dứt chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ, vu cáo các chức sắc của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

3) Chấm dứt ngay chiến dịch vận động phi pháp trục xuất Đức TGM Nguyễn Văn Thuận, vì việc trục xuất phi pháp này vi phạm trầm trọng Sắc Lệnh Tự Do Tín Ngưỡng và chính sách 10 điểm của chính phủ, sẽ gây nguy hại cực kỳ lớn lao không lường được, về đối nội cũng như đối ngoại, cho Quốc Gia Dân Tộc.

Ngày 27.6.1975, tại Dinh Độc Lập (cũ), Ủy Ban Quân Quản thành phố Saigon - Gia Định công bố quyết định không cho Đức TGM Nguyễn Văn Thuận được hoạt động tại nhiệm sở mới. Ngày 1.7.1975 Ủy Ban Quân Quản gởi cho ngài một văn thư yêu cầu ngài phải trở lại nơi cư trú trước ngày 30.6.1975.

V.- MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH DÀI VÀ GIAN KHỔ

Chiều 15.8.1975, Ủy Ban Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Thành Phố Sài Gòn đã mở cuộc họp tại Nhà Hát Thành Phố (trụ sở Hạ Nghị Viện cũ) để trình bày trường hợp của Đức TGM Nguyễn Văn Thuận. Có khoảng 350 giáo sĩ, tu sĩ và đại diện các giáo xứ được mời đến nghe trình bày. Ông Mai Chí Thọ tuyên bố rằng chính phủ quyết định đưa TGM Nguyễn Văn Thuận trở về Nha Trang, nơi đương sự cư ngụ trước ngày 30.6.1975, vì sự hiện diện của đương sự gây trở ngại cho sự đoàn kết dân tộc.

Cũng trong ngày 15.8.1975, ngài được mời lên Dinh Độc Lập, ở đó ngài bị bắt đưa về Nha Trang, nhưng không phải đưa về Tòa Giám Mục Nha Trang, nơi ngài cư trú trước 30.4.1975, mà đưa đến giáo xứ Cây Vông thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Chính Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đã kể lại câu chuyện này như sau:

“Ngày 15 tháng 8 năm 1975, lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời, tôi được mời đến Phủ Tổng Thống, “Dinh Độc Lập”, vào lúc 14 giờ. Tại đó, tôi bị bắt và đem đi trên một xe hơi có hai công an đi kèm. Và đó là khởi đầu cuộc phiêu lưu của tôi.

“Trong lúc ấy, tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ bị gọi tới Nhà Hát, với mục đích tránh mọi phản ứng của dân chúng đối với vụ bắt tôi.

“Trong cuộc hành trình, tôi bắt đầu ý thức rằng mình đang mất tất cả. Tôi ra đi, với chiếc áo chùng thâm trong túi có một cỗ tràng hạt. Tôi chỉ còn biết phó thác cho Chúa Quan Phòng. Nhưng giữa bao nhiêu lo âu ấy, tôi vẫn thấy có một niềm vui lớn: “Hôm nay là lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời...”

“Từ lúc đó, người ta cấm gọi tôi là “Đức Cha...”. Tôi là ông Nguyễn Văn Thuận. Tôi không được phép mang dấu hiệu gì về chức vị của tôi. Không hề báo trước chút nào. Chúa yêu cầu tôi hãy trở về với điều cốt yếu.

“Trên đường dài 450 cây số, không có một ai. Tôi thực sự bị bỏ rơi.

“Và trong sự xúc động trước hoàn cảnh mới, diện đối diện với Chúa, tôi nghe thấy Chúa Giêsu hỏi Simon: “Simon, con bảo Thầy là ai?” (cf MT 16,15)”

Giáo xứ Cây Vong lúc đó có khoảng 1200 giáo dân do Linh mục Gioan Phùng Văn Như, 72 tuổi, làm chánh xứ. Trong thời gian bị quản chế tại đây, ngài được Linh mục chính xứ và giáo dân mộ mến và giúp đỡ tận tình. Tuy nhiên, vào 8 giờ sáng ngày 18.3.1976, công an đã đưa xe bịt bùng đến, đọc lệnh bắt giam ngài, lý do bị bắt là vì ngài có những hành vi phản động dinh líu đến vụï nhà thờ Vinh Sơn, mặc dầu lúc đó ngài đang bị quản thúc ở Cây Vong, cách xa nhà thờ Vinh Sơn hơn 400 cây số. Khi ngài bị đẩy lên xe, mọi người đều chảy nước mắt và ai cũng âm thần đọc kinh cầu nguyện cho ngài. Ngài bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh. Ngài đã mô tả lại thời gian bị giam tại trại này như sau:

“Nhà tù nơi tôi bị giam trong những tháng đầu tiên tọa lạc tại khu vực có nhiều tín hữu nhất trong thành phố Nha Trang, nơi tôi đã làm giám mục trong 8 năm.

“Từ phòng giam, sáng tối tôi đều nghe thấy tiếng chuông nhà thờ ngân vang, và suốt ngày, tôi nghe những tiếng chuông của bao nhiêu giáo xứ và nhà dòng. Tôi ước mong được dời đi thật xa, lên miền núi để khỏi phải nghe những tiếng chuông ấy.

“Ban đêm, trong cái thinh lặng của thành phố, tôi nghe lại tiếng sóng Thái Bình Dương mà tôi đã từng nghe thấy từ văn phòng tòa giám mục của tôi. Không ai biết tôi ở đâu, mặc dù nhà tù chỉ cách nhà tôi vài cây số. Tôi sống tình trạng thật vô lý!”1

Ngày 29.11.1976, xe công an lại đến trại Phú Khánh đưa ngài vào trại Thủ Đức. Chúng ta hãy nghe ông Nguyễn Thanh Giàu, một chức sắc của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, kể lại chuyện gặp ngài tại trại Thủ Đức như sau:

Gặp lại ông Nguyễn Thanh Giàu tại California

“Lúc ấy khoảng 2 giờ chiều, trong khi chúng tôi đang kê khai lý lịch vào cuốn sổ của trại thì từ ngoài cổng, một toán bảy người đang đi về phía phòng chúng tôi, trong đó tôi nhận ra có Đại Tá Lý Bá Phẩm, tỉnh trưởng tỉnh Khánh Hòa (Nha Trang), còn những người kia thì hoàn toàn xa lạ, tuy nhiên có một người khi vừa trông thấy làm tôi thật ngạc nhiên, vì dù trong lớp áo bình thường như bao người khác, nhưng hình như ở người đó thoát ra một điều gì rất đặc biệt, rất trong sáng và tôi thầm nghĩ đây không phải là một người tầm thường. Rồi cũng như những người đến trước, mọi người kê khai tên tuổi và chức vụ của mình, chừng đó tôi mới biết vị trung niên rất đẹp trai, mặt mày rất sáng sủa kia là vị Giám Mục giáo phận Nha Trang Nguyễn Văn Thuận, và sau đó anh em Công giáo bắt đầu bu quanh Ngài để nghe Ngài nói chuyện...

“Trong thời gian ngắn ngủi, chỉ có một tuần lễ, sống chung phòng với Đức TGM Nguyễn Văn Thuận tại trại Thủ Đức, qua cung cách xử thế và đức độ của Ngài đã khiến tôi ngày càng kính trọng hơn...”

Tiếp đến là giai doạn chuẩn bị lên đường ra Bắc. Chúng ta hãy nghe ông Nguyễn Thanh Giàu kể tiếp:

“Sau màn khám xét, đồ đạc chúng tôi được cho vào những bao bố được buộc bởi những dây nylon đủ màu, xanh, vàng, trắng, đỏ...

“Tâm sự chúng tôi cực kỳ hoang mang, không biết số phận mình ra sao, họ sẽ đưa mình đi đâu đây? Có người đoán họ sẽ đưa chúng tôi ra Phú Quốc, người thì nói Côn Sơn, Bà Rá, v.v... nhưng có người biết chúng tôi sẽ ra Bắc: Đó là Đức Cha Thuận. Có lẽ Ngài còn biết rõ họ sẽ đưa chúng tôi đi bằng đường biển, cho nên những ngày sau đó, Ngài đến từng anh em thăm hỏi và cho thuốc những người đang bị bịnh, tôi nhớ có một người gốc thiểu số tên là Điểu Ngang, đang bị bịnh rất nặng, và Cha Thuận đã tặng cho anh nầy nhiều thuốc để điều trị. Đức Cha Thuận còn phân phối thuốc say sóng, chống ói cho anh em và Ngài đã thuật lại câu chuyện khi Ngài từ Sài gòn đi đến Marseille bằng đường biển Ngài bị say sóng rất nhiều. Ngài khuyên mọi người khi đi tàu nên nhịn ăn nhịn uống, khi nào đói lắm hãy ăn, khát lắm mới uống, vì khi say sóng nó sẽ ói đến khi trong người không còn gì để ói mới thôi.”1

Ngày 1.12.1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam, được đưa xuống tàu Trường Xuân đi ra Bắc. Khi ra đi, vì không có gì để đựng các đồ tùy thân, ngài phải lấy cái quần cột hai ống lại và dồn đồ vào trong rồi mang đi. Chúng ta hãy nghe chính ngài kể lại các diễn biến này:

“Ngày mồng 1 tháng 12 năm 1976, lúc 9 giờ tối, bất thình lình tôi bị gọi cùng với vài tù nhân khác. Chúng tôi bị xích người này với người kia từng hai người một và được đẩy lên một xe cam nhông. Cuộc hành trình ngắn đưa chúng tôi tới Tân Cảng, là hải cảng quân sự mới do người Mỹ mở mấy năm trước đó. Chúng tôi trông thấy một con tàu trước mặt, hoàn toàn chìm trong bóng tối để dân chúng khỏi để ý. Chúng tôi bị đưa lên tàu đi ra Bắc - một cuộc hải hành dài 1.700 cây số...

“Cùng với các tù nhân khác, tôi bị đem xuống hầm tàu, nơi chứa than. Chỉ có một ngọn đèn nhỏ leo lét cháy. Còn lại là hoàn toàn tối om. Chúng tôi tất cả là 1.500 người, trong tình cảnh không thể tả được. Một cơn bão nổi dậy trong tâm trí tôi. Cho tới nay tôi còn ở trong giáo phận của tôi, nhưng từ giờ phút này trở đi không biết tôi sẽ phiêu bạt tới chân trời góc bể nào. Tôi suy niệm lời thánh Phaolô nói: “Tôi đi Giêrusalem mà không biết điều gì sẽ xẩy ra cho tôi ở đó. Tôi chỉ biết rằng Chúa Thánh Thần khuyến cáo tôi rằng tại mọi thành tôi tới, xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi.” (Cv 20,22,23). Tôi đã sống trong lo âu suốt đêm hôm ấy.

“Ngày hôm sau, khi một chút ánh sáng mặt trời lọt vào hầm tàu, tôi nhận ra chung quanh tôi những gương mặt buồn sầu và tuyệt vọng của các tù nhân khác. Bầu khí sầu thảm như đám tang. Một trong các tù nhân đã tìm cách treo cổ tự tử với một sợi dây thép. Những người khác gọi tôi. Tôi đến nói chuyện với anh. Sau cùng anh lắng nghe lời tôi. Cách đây hai năm, trong một cuộc họp liên tôn tại California, tôi đã gặp lại anh. Mặt mừng rỡ, anh tiến tới gặp tôi và cám ơn tôi. Anh đã cho mọi người xem các vết thẹo còn hằn trên cổ.1

“Trong cuộc hành trình, khi các tù nhân biết có Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, họ đến với tôi để kể lể các nỗi lo âu của họ. Tôi đã chia sẻ các đau khổ của họ và an ủi họ hàng giờ và suốt cả ngày. Trong ba ngày trên tàu, tôi an ủi các tù nhân khác và tôi suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đêm thứ hai, giữa cái lạnh của Thái Bình Dương trong tháng 12, tôi bắt đầu hiểu rằng ơn gọi của tôi bắt đầu một giai đoạn mới. Trong giáo phận, tôi đã đưa ra các sáng kiến khác nhau cho công tác rao truyền Tin Mừng cho người bên lương. Giờ đây phải cùng Chúa Giêsu đi về nguồn gốc của việc loan báo Tin Mừng. Phải cùng Ngài đi chết “bên ngoài tường thành”, “bên ngoài tường thánh.”2

Tôi là người đã cùng đi trên chuyến tàu này với ngài, nhưng bị giam ở một khoang tàu khác. Ông Nguyễn Thanh Giàu, người bị giam chung cùng khoang với ngài đã tóm lược lại những gì đã xẩy ra trong khoang tàu của ngài như sau:

“Suốt mấy ngày ngồi dưới sàn tàu chở than dơ bẩn, lại thêm mấy thùng chứa phân, chứa nước tiểu bị tràn ra ngoài, mọi người như ngồi trên hầm phân. Đức Cha Thuận một lần nữa lại an ủi anh em, cố gắng giữ vững tinh thần, nếu để tinh thần sa sút bị bịnh lúc nầy thì rất là khổ.”2

Ngày 3.12.19763 tàu cập bến Hải Phòng. Công an chia các tù nhân thành ba toán khác nhau theo dấu hiệu họ đã gắn ở mỗi người và đưa mỗi toán đến một trại cải tạo khác nhau: Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Quang và Thanh Cẩm (Thanh Hóa). Riêng Đức TGM Nguyễn Văn Thuận bị đưa lên trại Vĩnh Quang ở Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc và Phú Thọ cũ), nằm sát chân núi Tam Đảo. Ông Nguyễn Thanh Giàu đã đi cùng trong toán này, nên đã kể lại một số chuyện về ngài trong thời gian ở trại Vĩnh Quang như sau:

“Họ chia chúng tôi thành từng đội, từng tổ và phân chia lao động. Tôi nhớ, khi phân công, anh em không muốn Ông Già, danh xưng để gọi Đức Cha Thuận vì lúc nầy cán bộ trại không cho gọi ai theo chức sắc tôn giáo, phải đi lao động nặng nhọc nên đề cử cho ông làm trực buồng, tức là ở nhà lo lấy thức ăn, sắp xếp chăn mền, dọn dẹp buồng và đương nhiên phải đi đổ phân hằng ngày.

“Anh em xin Ngài cho anh em thay Ngài làm công việc dơ bẩn nầy, nhưng Đức Cha Thuận không đồng ý và Ngài bảo: Tôi rất vinh dự được đi tù chung với anh em, xin anh em hãy để tôi làm hết bổn phận của tôi. Có lần vì Trời quá rét, nhiệm vụ người trực buồng phải đi lấy than đá đem về phòng để sưởi, vì bao than quá nặng trên đường về Ngài suýt mấy lần bị té ngã nhưng Ngài gắng gượng mang được về phòng, bỏ bao than xuống Ngài phải ngồi hồi lâu mới lấy lại sức...

“Có một điểm rất đặc biệt, khi cán bộ trại giam bắt tất cả tù nhân lên hội trường, là một gian nhà trống giữa sân trại, để làm bản tự khai... Sau vài giờ viết tự khai, họ cho nghỉ giải lao, người thì đi uống nước, đi vệ sinh,hút thuốc, nhưng phần đông thì bu quanh Ông Già để nghe Ông nói chuyện. Một cách rất trung thực mà nói, lúc bây giờ bu quanh Đức Cha Thuận không phải chỉ có giáo dân mà trong đó có đủ thành phần tín đồ các tôn giáo khác như Phật Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo. Riêng tôi, là một tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, lúc bấy giờ tôi không nhìn Đức Cha Thuận là Một Đức TGM Công Giáo mà nhìn Ngài là MỘT BẬC CHÂN TU, MỘT NHÀ TU HÀNH ĐÁNG KÍNH.”

Sau thời gian lấy lời khai tổng quát và phân loại, ngày 5.2.1977 ngài bị tách ra và đưa vào giam ở trại Thanh Liệt thuộc huyện Thanh Trì, phía Nam Hà Nội. Huyện này trước thuộc tỉnh Hà Đông, rồi Hà Tây và nay là một huyện ngoại thành của Hà Nội. Xã Thanh Liệt là quê của Chu Văn An. Trước khi rời trại Vĩnh Quang, một tù nhân đã lấy cái bao tải chùi chân ở cửa ra vào, giặt sạch và may lại thành cái bao cho ngài đựng các đồ cần thiết.

Trại Thanh Liệt được thiết lập ngay trong Đình Thanh Liệt. Nhìn bên ngoài, không ai có thể biết được đó là một trại giam. Cổng trại là một cổng đình to lớn, đồ sộ. Qua khỏi cổng trại là một khu rộng thênh thang, chung quanh có hai lớp tường kiên cố. Trại được chia thành nhiều khu nhỏ: A, B, C, D... Mỗi khu có 7 hoặc 8 buồng, mỗi buồng dài 8 thước và rộng 2 thước 50. Mỗi buồng có hai cửa dày bằng gỗ, chung quanh có tường cao khoảng 5 thước. Đây là nơi được dùng để giam những nhân vật quan trọng hoặc những người cần được khai thác. Mỗi buồng thường giam một người, nhưng cũng có khi hai người. Trước đây, trại Thanh Liệt cũng là nơi giam giữ các tù binh Mỹ. Linh mục Trần Hữu Thanh bị giam ở phòng 5D, ông Nguyễn Tư Thái (Thái Đen) bị giam ở phòng 3D, còn Đức TGM Nguyễn Văn Thuận bị giam ở phòng 7D...

Trong thời gian bị giam ở trại này, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận bị thẩm vấn liên tục về đủ mọi vấn đề, từ nội bộ của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, các thành phần linh mục bị coi là chống chính quyền, các thành phần linh mục đang tham gia các hoạt động của chính phủ... đến các tổ chức chính trị ở miền Nam Việt Nam. Đa số những người đến thẩm vấn là các công an cao cấp được Bộ Nội Vụ phái đến. Việc đối đầu với các công an loại này không phải là chuyện dễ dàng.

Sau này, khi ghi lại những đoạn ngắn về thời gian bị giam giữ, ngài có viết như sau:

“Trong 9 năm bị biệt giam cơ cực, có lúc tôi bị giam trong một xà lim không có cửa sổ. Có khi đèn diện bật sáng từ ngày này qua ngày nọ. Có lúc lại ở trong bóng tối từ tuần này qua tuần khác. Tôi cảm thấy bị ngộp vì nóng bức và hơi ẩm. Tôi sắp bị điên lên. Lúc bấy giờ tôi là một giám mục trẻ, với 8 năm kinh nghiệm mục vụ. Tôi không thể ngủ nổi. Tôi bị dằn vặt bởi ý nghĩ phải bỏ giáo phận, phải bỏ dở những công việc của Chúa. Tôi cảm thấy một sự phẫn uất nổi lên trong tôi.

“Một đêm kia, từ trong thâm tâm có một tiếng nói với tôi: “Tại sao con day dứt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và các công việc của Chúa. Tất cả những gì Người đã làm và muốn tiếp tục làm, như các cuộc viếng thăm mục vụ, đào tạo chủng sinh, tu sĩ nam nữ, giáo dân, giới trẻ, xây trường học, các cư xá sinh viên, cứ điểm truyền giáo... đều là việc rất tốt và đúng là công việc của Thiên Chúa chứ không phải Thiên Chúa! Nếu Chúa muốn con rời bỏ các việc đó, hãy bỏ ngay và hãy tín thác nơi ngài! Thiên Chúa sẽ giao việc của con cho người khác có khả năng hơn con. Con đã chọn Chúa chứ không phải những công việc của Chúa.

Ánh sáng ấy sẽ đem lại cho tôi niềm an bình mới, làm thay đổi hoàn toàn cách suy tư của tôi và đã giúp tôi vượt thắng những khoảnh khắc hầu như không thể chịu nổi về phương diện thể lý. Từ đó, một sự an lành tràn ngập tâm hồn tôi trong suốt 13 năm tù đày...”

Như chúng tôi đã nói ở trước, những chuyện xẩy ra ở trong trại Thanh Liệt, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận và anh Nguyễn Tư Thái đã kể lại cho tôi nhiều lần, nhưng ngài đã bảo tôi tạm bỏ qua vì có liên hệ đến một số người khác đang sống trong nước.

VI.- MỘT SỰ QUAN PHÒNG

Năm 1961, khi ông Trần Văn Lắm được Tổng Thống Ngô Đình Diệm cử đi làm Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Úc Đại Lợi, ông đã năn nỉ thân phụ và thân mẫu Linh Mục Thuận cho một người trong gia đình đến làm việc trong Tòa Đại Sứ Úc ở Canberra với ông. Ông Lắm hy vọng rằng nếu có một người cháu của ông Diệm cùng làm việc với ông, ông có thể dùng người cháu này để nói chuyện với Tổng Thống Ngô Đình Diệm mỗi khi gặp rắc rối với Phủ Tổng Thống VNCH. Vì trong gia đình của cụ Ấm ai cũng đã có công ăn việc làm nên không ai muốn đi. Cuối cùng, gia đình quyết định gởi cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu, lúc đó mới 20 tuổi, đến làm việc ở Tòa Đại Sứ Úc.

Tuy nhiên, ngày 2.11.1963, khi được tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm vừa bị lật đổ và hạ sát, ông Trần Văn Lắm đã đuổi cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu ra khỏi Tòa Đại Sứ VNCH ở Úc. Đây là một biến cố rất phủ phàng, nhưng không ngờ đó lại là một sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy nghe cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu kể lại những gì đã xẩy ra trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Catholic News Service ngày 10.2.2001.

Cô cho biết sau khi cô bị đuổi khỏi Tòa Đại Sứ, người anh của cô là Linh mục Nguyễn Văn Thuận đã viết cho cô một lá thư và nói: “Hãy ở lại đấy, một ngày kia, có thể em sẽ cứu được cả gia đình".

Phóng viên Catholic News Service nói: Tuy nhiên, cả bà lẫn người anh đã không thể nào tưởng tượng ra nổi hai mươi lăm năm sau bà đã trở thành một trong những người lãnh đạo phong trào tranh đấu đòi tự do cho người anh đang sống trong lao tù Cộng Sản Việt Nam, để rồi người anh ấy, Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, đã cầm đầu một bộ quan trọng trong Giáo Triều Rôma và ngày 21.2.2001 được tấn phong Hồng Y tại Vatican.

Bài báo viết thêm:

Theo lời khuyên của người anh, cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu lúc ấy mới 22 tuổi đã lấy hết can đảm chấp nhận cảnh bơ vơ nơi xứ lạ quê người và không quay về Việt Nam. Cô đã ghi danh học khoa chính trị và ngôn ngữ tại trường Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi (Australian National University) và sau đó trở thành một cô giáo để mưu sinh. Cô không thể ngờ được là cuối cùng cô đã phải sống xa tổ quốc nhiều năm như vậy.

Sau khi không còn được làm việc trong Tòa Đại Sứ nữa, cô đã được các nữ tu dòng Ursula, các linh mục, giám mục Úc Đại Lợi và bạn bè giúp đỡ rất nhiều để mỗi năm cô có thể gia hạn giấy phép lưu trú. Mười năm sau biến cố 1963, cô mới được gia nhập công dân Úc. Ngay sau khi trở thành công dân Úc, mùa Giáng Sinh năm 1973 cô mới dám về Việt Nam thăm gia đình sau 12 năm bơ vơ nơi xứ lạ quê người. Cô kể lại:

"Ngay sau khi tôi được cấp quyền công dân, tôi trở về thăm cha mẹ tôi. Tôi đã ở đó đón mùa Giáng Sinh và dành nhiều thời gian trò chuyện với anh tôi, nay đã là một Giám Mục tại giáo phận của ngài. Năm sau đó, ngài đến Úc để dự một hội nghị và khi chia tay ngài đã nói với tôi tại phi trường 'Năm sau anh sẽ lại gặp em tại Úc này.' nhưng anh tôi đã không thực hiện được lời hứa ấy".

Năm 1975, cô đã bảo lãnh được cho cha mẹ di tản đến Úc chỉ 5 ngày trước khi Sàigòn, thủ đô miền Nam, rơi vào tay cộng sản.

Vài tháng sau đó, cô và gia đình đã điếng người đi khi nghe tin anh cô đã bị nhà cầm quyền cộng sản bắt giam với tội danh mà nhà cầm quyền vu khống là "có nợ máu với nhân dân", một tội danh thường sẽ dẫn đến cái chết không cần xét xử. Cô Hàm Tiếu tâm sự:

"Tôi có thể nhớ lại được, anh tôi luôn khao khát trở thành một linh mục. Khi còn bé, trong cái ngăn kéo ở đầu giường ngủ, anh ấy thường làm những kiểu mẫu bàn thờ bằng giấy. Anh ấy luôn luôn là kiểu mẫu về lòng bác ái cho chúng tôi, một con người rất tốt. Tôi quyết định làm tất cả những gì tôi có thể làm được để cứu anh ấy".

Các Đức Giám Mục Úc Đại Lợi đã hoàn toàn ủng hộ gia đình cô và đã cử hành nhiều thánh lễ cầu nguyện cho sự an nguy của Đức TGM Nguyễn Văn Thuận. Cô cho biết:

"Tôi đã đi khắp nơi trên thế giới để xin các nhà cầm quyền can thiệp với nhà nước cộng sản Việt Nam trả tự do cho anh tôi và ở mọi nơi mọi người đã rất tốt. Chúng tôi đã in hằng ngàn thư và thỉnh nguyện thư."

Năm 1984, nhờ sự giúp đỡ của Đức Ông Vincent Trần Ngọc Thụ, thư ký riêng của Đức Thánh Cha, cô đã được Đức Thánh Cha tiếp kiến. Cô đã xin Đức Thánh Cha cầu nguyện và can thiệp cho anh cô.

Năm 1988, tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh tại Bangkok, hai anh em gặp lại nhau. Người anh trông hốc hác đi rất nhiều trong khi cô em cười tươi như tên của cô trong niềm vui vì công khó của cô đã có kết quả.

Nhìn lại những năm gian nan, đầy lo buồn trong đời, cô Hàm Tiếu nói với phóng viên Catholic News Service:

"Thật tình mà nói, luôn luôn có điều gì đó nuôi dưỡng đức tin của tôi, thường tôi cảm thấy thiên thần hộ thủ luôn bên tôi"

VII.- GIAI ĐOẠN BỊ QUẢN CHẾ

Vì có tin đồn ở Saigon rằng Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đã chết, nên công an và Mặt Trận Tổ Quốc đã tổ chức một cuộc gặp gỡ giữa ngài và Đức TGM Nguyễn Văn Bình để xóa tan tin đồn này. Đầu tháng 9 năm 1977, Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội báo tin cho ngài biết Đức TGM Nguyễn Văn Bình sẽ đi Roma qua ngã Hà Nội, ngài sẽ được gặp Đức TGM Bình. Ngày 13.9.1977 công an đã đền trại Thanh Liệt chở ngài ra Cục Công An ở Hà Nội gặp Đức TGM Bình. Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong khoảng 20 phút và chỉ hỏi thăm nhau về sức khỏe.

Ngày thứ bảy 13.5.1978, vào khoảng 4 giờ chiều, một trung úy công an đến gọi ngài lên văn phòng làm việc. Tại đây, ngài được ông Cục Trưởng Cục Công An tiếp và cho biết ngài được phóng thích, nhưng bị quản chế ở Giang Xá. Ngày 26.5.1978, tức 13 ngày sau, công an đến đưa ngài về Giang Xá.

Giáo xứ Giang Xá là một giáo xứ nằm ở thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, phía nam Hà Nội. Huyện này trước đây thuộc tỉnh Hà Đông, nay là tỉnh Hà Tây. Giang Xá lúc đó có khoảng 350 giáo dân, thuộc Giáo Phận Hà Nội, nhưng chỉ có Ban Hành Giáo do giáo dân đảm trách, chứ không có linh mục. Ngài bị cấm không được làm các nghi lễ phụng vụ hay giảng dạy cho giáo dân. Tuy nhiên, nhờ thái độ khoan dung và hòa nhã khi nói chuyện, mọi người đã nhận ra rằng ngài không phải là loại ác ôn như công an đã mô tả. Ngài đã chinh phục được cả những cán bộ có trách nhiệm canh giữ ngài cũng như các giáo dân có nhiệm vụ theo dõi ngài.

Ngày 21.11.1988, ngài nhận được lệnh phóng thích của Bộ Nội Vụ, nhưng không được trở về Nha Trang hay Saigon mà bị bắt buộc cư trú ở Tòa TGM Hà Nội.

VIII.- ĐI VÀO CHỖ CHẾT

Trong thời gian ở Tòa Giám Mục Hà Nội, ngài bị sưng nhiếp hộ tuyến rất nặng. Kinh nghiệm cho biết, vào bệnh viện chữa trị là một điều rất nguy hiểm đối với hàng giáo sĩ công giáo, nhất là đối với hàng giáo phẩm cao cấp. Trường hợp của Đức Giám Mục Nguyễn Văn Hòa ở Quy Nhơn và Đức TGM Nguyễn Kim Điền ở bệnh Viện Chợ Rẫy, Sài Gòn, là những thí dụ điển hình. Các giáo sĩ thường tìm các y sĩ quen biết nhờ chữa trị tại nhà. 

Tuy nhiên, vì tình trạng sưng nhiếp hộ tuyến của ngài đã đến giai đoạn nghiêm trọng, không còn chữa tại nhà được, Tòa Giám Mục Hà Nội đã quyết định đưa ngài vào bệnh viện để xin chữa trị. Tại đây, các bác sĩ khám nghiệm và cho biết trường hợp của ngài phải giải phẫu và cắt bỏ nhiếp hộ tuyến.

Ngày 24.11.1988 ngài phải trải qua một cuộc giải phẫu dài ba tiếng đồng hồ tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội. Sau khi mổ xong, bác sĩ trưởng khoa chẳng những không cho uống thuốc men gì mà còn cấm các bác sĩ và y tá không ai được chữa trị cho ngài khi không có lệnh của ông. Vì thế, vết thương ở chỗ mổ bị nhiễm trùng, sưng lên rất lớn. Các bác sĩ phải đưa vào mỗ lại lần thứ hai, lấy ra toàn máu đông và mủ. Tuy nhiên, sau khi mổ lại xong, vết thương tiếp tục sưng đến nỗi ngài không còn đi tiểu tiện được, nhưng bác sĩ trưởng khoa cũng như các bác sĩ điều trị vẫn không cho ngài uống một viên thuốc nào. Ngài tưởng sắp chết. Nhưng nhờ một sự giúp đỡ lén lút, ngài đã được cứu thoát! Cho đến hôm nay, nhà cầm quyền cộng sản cũng không hiểu tại sao ông Nguyễn Văn Thuận đã không chết lúc đó!

Nhìn lại quãng đường này, ngài viết:

“Người ta tưởng tôi đã chết rồi. Dân chúng đã cử hành nhiều lễ cầu hồn cho tôi. Nhưng Thiên Chúa biết viết thẳng trên những đường cong”.1

IX.- BỊ BUỘC RỜI KHỎI VIỆT NAM

Trong thời gian bị quản chế tại Tòa Giám Mục Hà Nội, Tòa Thánh và Giáo Hội Việt Nam đã tìm một giải pháp để Đức TGM Thuận có thể làm mục vụ tại Việt Nam. Vì biết chính quyền không muốn Đức TGM Thuận trở về Sài Gòn, Tòa Thánh đã đề nghị cho Đức TGM Thuận làm Phó TGM Giáo Phận Hà Nội, nhưng chính quyền không chấp thuận.1

Đại Tá Nguyễn Hồng Lâm, nhân vật thứ ba trong Bộ Công An, đã nói với Đức TGM Thuận như sau:

- Vatican không thể bổ nhiệm ông nếu không có sự tham khảo chúng tôi trước. Lần này các vị lãnh đạo Roma đã đi quá xa...

Đại Tá Lâm coi việc đề nghị Đức TGM Thuận làm Phó TGM Hà Nội là một âm mưu còn lớn hơn việc bổ nhiệm ngài làm Phó TGM Sài Gòn vào năm 1975. Đức TGM Thuận đã trả lời:

- Đây là một sự hiểu lầm. Tòa Thánh “chỉ đề nghị” chứ không phải là “bổ nhiệm” tôi...

Đại Tá Lâm nói:

- Ông nói luôn với giọng nhỏ nhẹ, nhưng ông gây cho chúng tôi khá nhiều vấn đề khó khăn giải quyết... Tại sao ông không đi thăm cha mẹ ông? Ông ở đó với các vị một thời gian rồi trở về khi mọi sự đã lắng dịu.

Đức TGM Thuận trả lời:

- Tôi đã đi thăm cha mẹ tôi rồi.

Ông Lâm nói tiếp:

- Vậy thì tại sao ông không đi Roma một thời gian?”

Sau cùng, Đức TGM Thuận trả lời:

- Được, để tôi suy nghĩ.

Khi mọi cuộc thảo luận và dàn xếp bị thất bại, ngày 21.3.1991, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. Ngài đã đến Thụy Sĩ rồi từ đó xin qua Roma.

X.- CON ĐƯỜNG ĐI LÊN

Sau một thời gian sống âm thầm và làm việc tại Roma, ngày 24.11.1994 Tòa Thánh Vatican đã bổ nhiệm Đức TGM Nguyễn Văn Thuận làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình tại Vatican (ngang hàng với một Thứ Trưởng). Chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình lúc đó do Đức Hồng Y Roger Etchegary giữ.  Ngày 24.6.1998 ngài được cử làm Chủ Tịch Hội Đồng này (ngang hàng Tổng Trưởng) thay thế Đức Hồng Y Roger Etchegaray. Đây là lần đầu tiên một Giám Mục Việt Nam được bổ nhiệm vào một chức vụ quan trọng như vậy trong bộ máy trung ương của Tòa Thánh.

Hội Đồng gồm có khoảng 40 thành viên (members) và cố vấn (consultors) đến từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có bốn Hồng Y, một Thượng Phụ, bảy Giám Mục và 25 Đức Ông. Hội Đồng họp khoáng đại định kỳ tại Roma để thảo luận về vấn đề công lý, hòa bình và nhân quyền trên thế giới, và đưa ra các hướng dẫn hành động thích hợp.

Với chức vụ mới này, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đã đại diện Tòa Thánh chủ tọa nhiều cuộc họp quan trọng tại Tòa Thánh và nhiều nơi trên thế giới, đi thuyết giảng khắp nơi. Mỗi năm ngài phải đến thuyết giảng tại Hoa Kỳ ít nhất là hai lần theo lời yêu cầu của các Hồng Y hay Giám Mục Hoa Kỳ.

Đặc biệt, trong Mùa Chay năm 2000, ngài đã được Đức Giáo Hoàng giao phó giảng tĩnh tâm cho Đức Giáo Hoàng và Giáo Triều Roma. Ngài cho biết, ngày 15.12.1999 Đức Giáo Hoàng đã nói với ngài:

- Năm đầu tiên của Ngàn Năm Thứ Ba, một người Việt Nam sẽ giảng tuần Tĩnh Tâm cho Giáo Triều Roma.

Rồi Đức Giáo Hoàng nhìn ngài và nói tiếp:

- Đức Cha đã chọn đề tài nào chưa?

Ngài đã thưa:

- Kính thưa Đức Thánh Cha, con từ trên mây rớt xuống, con rất ngạc nhiên. Có lẽ con có thể nói về hy vọng được không?

Đức Giáo Hoàng trả lời:

- Hãy kể lại những chứng tá của Đức Cha.

Ngài cho biết, sau khi cầu nguyện, ngài đã chuẩn bị một bữa ăn Việt Nam: “Soong chảo vẫn như vậy, chất liệu cũng thế: Tin Mừng hy vọng. Nhưng tôi thay đổi thực đơn. Tôi sẽ dùøng gia vị và hương vị Á Châu và người ta sẽ ăn bằng đũa.”

Không ngờ các bài thuyết giảng của ngài tại nhà nguyện Mẹ Đấng Cứu Thế của Tòa Thánh Vatican từ 12 đến 18 tháng 3 năm 2000 đã đem lại những kết quả tốt đẹp. Bằng những sự suy niệm lời Chúa qua cuộc sống lao tù của mình, ngài đã làm nổi bật sức mạnh của lời Chúa trong cuộc sống của Giáo Hội và của mỗi người tín hữu. Vào ngày cuối của cuộc Tĩnh Tâm, Đức Giáo Hoàng đã gởi cho ngài một lá thư cám ơn và ca ngợi những suy niệm của ngài và nói ngài “đã dẫn đưa chúng tôi trên nẻo đường hy vọng mà Chúa Kitô đã mở ra cho chúng ta”.

Cuối năm 2000, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đã được tặng liên tiếp hai giải thưởng về hòa bình. Giải thưởng thứ nhất là “Man for Peace” (Người Phục Vụ Hòa Bình) do Ủy Ban Quốc Tế của tổ chức Togother for Peace Foundation (Chung Nhau Xây Dựng Hòa Bình) tặng. Giải thưởng này được trao tại Tòa Thị Chính Roma vào ngày 12.12.2000. Giải thưởng thứ hai mang tên “Artefice della Pace” (Người kiến tạo hòa bình), do tổ chức quốc tế SERMIG tặng. Giải thưởng này được công bố tại Tòa Thánh Vatican ngày 22.12.2000, trước sự hiện diện của Đức Thánh Cha.

Trong nghi lễ trao giải thưởng “Artefice della Pace”, Bà Mariapia Fanfani, Chủ Tịch tổ chức Togother for Peace Foundation cho biết Đức TGM Nguyễn Văn Thuận được trao tặng giải thưởng này vì lý do sau đây: Ngoài những hoạt động cho Công lý và Hòa bình thuộc pham vi của Tòa Thánh Vatican, Đức TGM Thuận còn là người đã bị giam tù hơn 13 năm không xét xử, nhưng vẫn giữ phong cách bác ái, đoàn kết và xây dựng. Các tác phẩm của ngài đã có ảnh hưởng sâu xa đến đời sống đạo đức của xã hội. Trong các tác phẩm ngài đã viết, hai cuốn “Đường Hy Vọng” và “Năm chiếc bánh và hai con cá” đã được dịch ra 12 thứ tiếng. Cuốn “Chứng nhân Hy vọng” gồm các bài giảng cho Giáo Triều mới chưa đầy một năm mà đã được dịch ra 6 thứ tiếng.

Cùng được trao tặng giải thưởng “Man for Peace” với Đức TGM Nguyễn Văn Thuận có nhiều nhân vật quốc tế khác như ông Tổng thư Ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, Hoàng Hậu Thụy Điển, Công Chúa Astrid của Bỉ, Nữ Nghị Sĩ Ombretta Fumagalli Carulli... Giải thưởng này được cấp hai năm một lần. Đây là một vinh dự lớn lao không những cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mà còn cho toàn thể dân tộc Việt Nam.

Trước đó, ngày 9.6.1999, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đã được Tổng Thống Pháp Jacques Chirac trao tặng Huân Chương Quốc Gia Bội Tinh Đệ Nhất Đẳng. Lễ trao tặng đã diễn ra tại Đại Sứ Quán Pháp cạnh Tòa Thánh Vatican, trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Gantin, niên trưởng Hồng Y Đoàn; Đức Hồng Y Roger Etchegaray, Chủ Tịch Uûy Ban Trung Ương Năm Thánh 2000; Đức Hồng Y Poupard Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Văn Hóa; Đức TGM Tauran, người Pháp, Ngoại Trưởng của Tòa Thánh, và các đại diện của Cộng Đoàn Liên Tu Sĩ Việt Nam tại Roma.

XI.- THÀNH LẬP CỘNG ĐỒNG LA VANG

Ngày 18.3.2000, Đức TGM Nhuyễn Văn Thuận đã đến gặp Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II trình văn thư xin thành lập Cộng Đồng La Vang. Mở đầu văn thư, ngài viết:

“Hôm nay, bế mạc tuần Tĩnh Tâm của Đức Thánh Cha và Giáo Triều, con muốn làm lại trong tay Đức Thánh Cha, lời khấn với Đức Mẹ Vô Nhiễm tại Vương Cung Thánh Đường La Vang, ngày 8 tháng 12 năm 1966, dịp hành hương toàn quốc Sinh Viên Công Giáo...”

Sau đó, ngài kể lại ngày 13.5.1978, khi ngài được đưa tới quản thúc ở giáo xứ Giang Xá cách Hà Nội 20 cây số. Vừa đến nơi ngài rất ngạc nhiên khi thấy thánh đường ở đây rất giống Thánh Đường La Vang. Giáo dân đã giải thích cho ngài rằng cách đây 40 năm, cha già chánh xứ Phêrô Phượng đã vào La Vang quan sát và xin mẫu nhà thờ Đức Mẹ La Vang để đem về xây nhà thờ Giang Xá. Ngài nói với Đức Thánh Cha ngài đã ở dưới bóng thánh đường Đức Mẹ – theo mẫu La Vang – để viết nhiều sách thiêng liêng về đề tài hy vọng,

Sau đó, ngài xin Đức Thánh Cha chúc lành cho Hiệp Hội giáo dân mang danh hiệu “Cộng Đồng Đức Mẹ La Vang, Mẹ của hy vọng” (Mater Spei).

Ngài nói rõ các thành viên của Cộng Đoàn này tình nguyện sống theo sứ điệp Đức Mẹ La Vang gồm 10 điểm sau đây:

1.- Chứng nhân hy vọng.

2,- Bí quyết cầu nguyện.

3.- Tinh thần thơ ấu.

4.- Mầu nhiệm Thánh Giá.

5.- Phó thác cho Mẹ.

6.- Phục vụ người nghèo.

7.- Xây dựng Hội Thánh.

8.- Thánh hóa gia đình.

9.- Đoàn kết hiệp nhất.

10.- Loan báo tin mừng.

Đức Thánh Cha đã phê vào dưới đơn của ngài: “Cum benedictione”.

Ít lâu sau, ngài gọi tôi và cho biết một bà hảo tâm người Mỹ ở San Diego, California, muốn dâng cúng cho ngài 20.000.000 USD để phát triển việc truyền giáo. Ngài bảo tôi đi kiếm một nhà thờ Tin Lành trong vùng Orange County, California, nhưng xa Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, thương lượng mua lại làm trụ sở phát triển việc truyền giáo và văn hóa. Theo ngài, trước tiên, trụ sở này sẽ dành cho các linh mục Việt Nam đến Mỹ học tại các trường đại học trong vùng dùng làm nơi cư ngụ. Thỉnh thoảng họ có thể giúp tổ chức tĩnh tâm cho giáo dân. Các chuyện khác sẽ tính sau.

Khi tôi và một số bạn bè đang cố gắng tìm một nơi thích hợp thì ngài ngã bệnh nặng. Mọi công việc phải ngưng lại. Nay tôi được tin người hảo tâm nói trên cũng đã qua đời.

XII.- CHIẾC ÁO HỒNG Y

Ngày 21.1.2001, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đã được phong tước Hồng Y. Cùng được phong tước với ngài có 44 vị khác. Người đầu tiên được trao mũ đỏ là Đức Hồng Y người Ý, Giovanni Battista Re, Bộ Trưởng Bộ Giám Mục. Người thứ hai là Đức Hồng Y Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình.

Ngay trong ngày được phong tước Hồng Y, ngài đã gởi cho Giáo Hội Việt Nam một bức tâm thư nguyên văn như sau:

“Trọng kính Đức Hồng Y Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam,

“Kính thưa các Đức Tổng Giám mục và Giám mục, các linh mucï, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân quốc nội và quốc ngoại.

“Trong ngày trọng đại được phong tước hiệu Hồng y và đồng tế với Đức Thánh Cha trong thánh lễ tạ ơn 21 và 22.2.2001, con rất cảm động hướng về Giáo hội mẹ Việt Nam và quê hương Việt Nam yêu quý.

“Con cảm tạ tất cả các đấng bậc và toàn thể dân Chúa đã hiệp ý cầu nguyện, tạ ơn Chúa thương xót đến phận hèn của con cho con được phục vụ giáo hội hoàn vũ bên cạnh Đức Thánh Cha.

“Mặc dù vạn dặm xa xăm, lòng con không ngừng gắn bó với Giáo hội và quê hương. Con hằng tâm niệm rằng nếu mọi người chúng ta sống theo sứ điệp 10 điểm mà Chúa quan phòng đã trao cho Đức Mẹ La Vang ban đến cho ông bà chúng ta trên 200 năm trước đây, thì từ bắc chí nam mọi người sẽ đồng tâm nhất trí như anh em một nhà cùng nhau xây dựng một quê hương giầu mạnh trong yêu thương và đoàn kết.

“Sứ điệp ấy gồm 10 điểm. Năm điểm thánh hóa bản thân, năm điểm phục vụ Giáo hội, yêu mến Tổ quốc và phục vụ xã hội.

“Một là bí quyết cầu nguyện; hai là tinh thần ấu thơ; ba là mầu nhiệm Thánh giá; bốn là phó thác cho Mẹ; năm là phục vụ người nghèo, sáu là xây dựng Hội thánh; bẩy là thánh hóa gia đình, bảo vệ tổ quốc; tám là đoàn kết, hiệp nhất; chín là loan báo Tin Mừng; và mười là chứng nhân hy vọng.

“Mỗi ngày con hướng về Đức Mẹ La Vang và sốt sắng cầu nguyện cho Giáo hội và dân tộc với lời kinh mà ông bà ta đã đọc ngày xưa:

Lậy ơn Đức Mẹ La Vang

Xin nghe con mọn thở than mấy lời

Mẹ là Mẹ thật Chúa Trời

Mà Mẹ cũng thật mẹ loài người ta

Cúi xin xuống phước hà sa

Đoái xem con cái thiết tha khẩn cầu...

“Với tâm hồn tràn ngập tin tưởng ở tương lai, với lòng tín thác vô bờ bến vào Đức Mẹ La Vang và các Thánh Tử đạo Việt Nam, con xin trân trọng kính chào, cám ơn các đấng các bậc và toàn thể Cộng đồng Dân Chúa quốc nội và quốc ngoại.”

Ký tên: Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Nhật báo Los Angeles Times, một tờ báo có số xuất bản rất lớn trong số ra ngày 21.2.2001, có đăng một bài nhận định dưới đầu đề “The Men Who Would Be Pope” (Những người có thể lên ngôi Giáo Hoàng) dự đoán 14 vị Hồng Y có nhiều khả năng được bầu làm Giáo Hoàng. Đặc biệt, theo tác giả, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chủ Tịch Hội Đồng Công Lý và Hòa Bình, có rất nhiều khả năng được bầu kế vị Đức Gioan Phaolô II. Các báo Ý và Pháp cũng đã dự đoán như vậy. Nhưng những việc gì Đức Chúa Thánh Thần làm thì Người sẽ làm.

XIII.- OMNIA VINCIT AMOR

Những lời ngài viết khi bị quản chế ở Cây Vong đã được ngài cố gắng thực hiện trong cả cuộc đời mình. Ngài đã kể lại:

“Trong chuyến hành trình ra Bắc, ba lần tôi đã bị xích chung với một tù nhân không công giáo, từng là dân biểu và nổi tiếng là Phật Tử cực đoan. Sự gần gũi trong cùng số phận ấy đã ghi khắc dấu vết sâu đậm nơi trái tim ông. Sau này tôi được biết rằng sau khi được trả tự do, ông ta hãnh diện và thích kể lại sự kiện trên đây. Ông đã luôn luôn tìm cách để được xích chung với tôi và từ đó chúng tôi trở thành bạn với nhau.”

Khi mới đến trại Vĩnh Quang, ngàøi cũng đã chinh phục được những cán bộ có nhiệm vụ canh giữ và theo dõi ngài. Ngài kể lại rằng một hôm trời mưa, đang ngồi bổ củi, ngài đã hỏi một người canh tù có thể đẽo một cây thánh giá bằng gỗ được không. Anh ta trả lời rằng luật trại cấm đưa vào bất cứ vật gì mang dấu chỉ tôn giáo, Ngài trả lời: “Tôi biết, nhưng chúng ta là bạn với nhau.” Anh ta nói: “Sẽ có nguy hiểm cho cả hai chúng ta”. Ngài bảo anh ta cứ lơ đi để cho ngài làm. Anh ta bỏ đi nơi khác, Thế là ngài đã dẽo xong cây thánh giá và giấu trong cục xà phòng cho đến ngày ra trại.

Trong trường hợp khác, ngài đã xin người canh tù một sợi đây điện. Anh ta hoảng hốt nói: “Tôi đã học ở Đại Học An Ninh rằng nếu một người xin dây điện có nghĩa là muốn tự tử.” Ngài giải thích cho anh ta rằng ngài là một linh mục công giáo, không được tự tử. Ngài nói ngài chỉ muốn làm một dây xích nhỏ để đeo cây thánh giá. Anh ta nói: “Thật khó mà từ chối anh điều gì!” Sau đó anh ta đem đến cho ngài một sợi điện và hai cái kìm nhỏ. Thế là ngài đã hoàn thành sợi dây đeo thánh giá một cách dễ dàng.

Một câu chuyện khác đã xẩy ra tại giáo xứ Giang Xá, nơi ngài bị quản chế. Ngài kể lại:

“Khi tôi bị quản thúc tại làng Giang Xá, cách Hà Hội 20 cây số. Người canh giữ tôi là một người tín hữu công giáo. Thoạt đầu ông ta đặt bao nhiêu câu hỏi về tôi: ông giám mục này đã làm gì để bị giam giữ như thế? Khi sống và ăn chung với tôi, ngủ trong cùng một phòng cạnh tôi, dần dần ông ta hiểu, và ông để cho tôi viết các sách đạo đức. Ông cho phép các linh mục đến gặp tôi ban đêm, họ ở cách xa đó 300 cây số, để được nghe tôi nói về Công Đồng Chung Vatican II, vì không một giám mục nào ở Bắc Việt đã có thể tham dự Công Đồng...”

Mỗi tháng, người cán bộ này đều phải làm báo cáo cho công an về các sinh hoạt của ngài. Nhưng một hôm ông ta nói ông ta không làm báo cáo nữa, vì ông không biết phải viết gì. Ngài liền nói với ông ta: “Ông cần phải viết. Nếu ông không viết thì ông sẽ bị thay thế. Một người lính canh khác mà tới đây, họ sẽ làm khó tôi.” Ông ta lại nói: “Tôi không biết viết gì cả!”. Ngài nói để ngài viết giúp cho, ông ta chỉ cần chép lại, Ông ta nói: “Tốt lắm!”.

Tháng đó, công an khen ông ta viết báo cáo tốt và tặng ông ta một chai rượu cam. Ông đem về và tối đó đưa đến mời ngài cùng uống.

Ngài kết luận: “Omnia vincit amor”. Tình yêu thắng được tất cả!

XIV.- NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

Vào năm 2000, khi đi khám bệnh, người ta khám phá ra có một màng đang phủ mọc lên trong thành bụng của ngài. Ngài nói với tôi rằng cuộc khảo sát cho biết kết quả là “benigne”, tức bướu lành. Tuy nhiên, vào đầu năm 2001, sự phát triển của cái bướu này đã gây khó chịu cho ngài nhiều hơn và sức khỏe yếu đi. Ngày 17.4.2001, theo đề nghị của Đức Hồng Y Bernard F. Law, ngài đến một bệnh viện tại Boston, Massachuchetts, Hoa Kỳ, để cắt cái màng đó đi. Ngàì cho biết ở Ý cũng có một bác sĩ chuyên mổ về loại biếu này, nhưng ĐHY Law nói ở Mỹ có nhiều phương tiện tối tân hơn, nên qua Mỹ mổ sẽ tốt hơn. Ngài đã nhờ ĐHY Law giúp đỡ.

Sau khi mổ xong khoảng một tuần lễ, ngài đã điện thoại cho tôi biết bác sĩ chỉ cắt khoảng 2/3 cái màng vì không thể cắt hơn được nữa.

Tôi có hỏi ý kiến một vài bác sĩ chuyên về ung thư về trường hợp của ngài. Họ cho rằng đó là trường hợp tuyến tiền liệt của ngài được mỗ vào năm 1988 tại Hà Nội, nay phát triển trở lại và trở thành ung thư. Vì ngài không chịu đi khám nghiệm thường xuyên để chửa trị, nên bướu đã lan dần lên thành bụng. Trường hợp này không còn cứu chữa được, ngoại trừ có phép lạ. Bệnh viện ở Boston có cắt hết rồi bướu cũng mọc lại. Nhưng tôi không dám nói với ngài.

Đầu năm 2002, màng bướu tái phát và ăn lan vào ruột. Các bác sĩ Ý cho biết ngài phải chịu một cuộc giải phẫu kéo dài trong khoảng 30 tiếng đồng hồ mới có thể cắt bỏ hết và nối lại ruột được.

Ngày 24.4.2002, ngài trở về Úc thăm thân mẫu và mừng tuổi thọ 100 của mẹ ngài, rồi tiếp tục đi giảng thuyết, sau đó trở lại Roma nghỉ ngơi và chịu các cuộc thử nghiệm trước khi mổ. Ngày 4.5.2002 ngài đến bệnh viện ở Milano, phía bắc nước Y,Ù để chịu giải phẩu.

Lần chót tôi được nói chuyện với ngài bằng điện thoại hai tiếng đồng hồ là ngày 4.5.2002, trước khi đi mổ. Lần trước đó vào ngày 26.4.2002, khi ngài đang ở Úc thăm thân mẫu ngài, ngài cũng đã nói chuyện với tôi suốt hai tiếng đồng hồ như thế. Hình như ngài đã linh cảm trước rằng ngài có thể sẽ ra đi trong cuộc giải phẫu này nên đã sẵn sàng tất cả. Sau khi nói hết những chuyện cần phải nói, ngài dặn tôi: Cố gắng hoàn thành cuốn sách nói về các biến cố lịch sử Việt Nam trước 30.4.1975 mà tôi đang biên soạn và nếu cần ngài giúp đỡ gì cứ nói. Tôi hứa với ngài tôi sẽ hoàn thành càng sớm các tốt.

Cuộc giải phẫu được thực hiện trong ngày 8.5.2002, nhưng mới kéo dài được 7 tiếng thì sức khỏe của ngài không còn chịu nổi nên cuộc giải phẩu phải ngưng lại. Các bác sĩ đợi sức khỏe của ngài phục hồi để tái giải phẫu, nhưng chuyện đó đã không xẩy ra.

 Tại Bệnh Viện Pio XI trước khi qua đời

Trong bài giảng cho Giáo Triều ngày 14.3.2000 về “Bí quyết của sự Thánh Thiện: Sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng”, ngài nói:

“Khi ra khỏi nước, tôi đã nhận được một lá thư của Mẹ Têrêxa ở Calcutta với những lời lẽ sau đây: “Điều đáng kể không phải là số lượng công tác được hoàn thành, nhưng là mức độ tình yêu mà ta để vào trong mỗi công tác”. Kinh nghiệm đó đã củng cố trong tôi ý niệm là phải sống mỗi ngày, mỗi phút giây của cuộc đời ta như là phút giây cuối cùng; hãy dẹp bỏ những gì là phụ thuộc; chỉ tập trung vào những gì là chính yếu. Mỗi chữ, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là những phút giây đẹp nhất đời ta. Chúng ta phải thương yêu mọi người, chúng ta phải tươi cười với mọi người mà đừng đánh mất một giây phút nào”.

Trong thánh lễ an táng Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói:

“Chắc chắn sự khuất bóng của ngài gây đau buồn cho những ai đã quen biết và yêu mến ngài: gia đình ngài, cách riêng mẹ ngài, tôi lại bày tỏ cho bà sự gần gũi yêu thương của tôi. Tôi cũng nghĩ tới Giáo hội Việt nam yêu quí, Giáo Hội đã sinh ngài trong đức tin, và tôi cũng nghĩ tới toàn thể dân Việt Nam mà Đức Hồng Y đáng kính đã công khai nhắc tới trong chúc thư thiêng liêng của ngài bằng cách khẳng định luôn luôn yêu mến. Tòa Thánh mà ngài đã phục vụ qua những năm cuối đời ngài, than khóc Hồng Y Nguyễn Văn Thuận”.

Trong 174 phái đoàn của các quốc gia tới dự đám tang Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, người ta thấy có hai đại diện của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam ngồi chung trong phái đoàn của nước Pháp vì giữa Vatican và Hà Nội chưa có bang giao.

Ngày 16-9.2002 ngài đã từ trần lúc 6:30 chiều ngày 16.9.2003 tại Roma, tức lúc 3:30 sáng ngày 16.9 giờ Los Angeles, California.

XV.- TỰ NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI MÌMH

Khi nhìn lại cuộc đời mình, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã mô tả như sau:

 “Ngày hôm nay, vào lúc bế mạc tuần tỉnh tâm, tôi rất xúc động. Cách đây 24 năm, ngày 18 tháng 3 năm 1976, áp lễ thánh Giuse, tôi bị đưa từ nơi quản thúc ở Cây Vong, đến chỗ biệt giam nghiêm nhặt trong nhà tù Nha Trang, Phú Khánh.

“Cách đây 24 năm, tôi không bao giờ ngờ rằng một ngày kia, chính vào ngày này, tôi kết thúc việc giảng thuyết tuần Tĩnh Tâm tại Vatican.

“Cách đây 24 năm, khi tôi cử hành thánh lễ với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, tôi không bao giờ tưởng tượng, ngày hôm nay Đức Thánh Cha tặng cho tôi một chén lễ mạ vàng.

“Cách đây 24 năm, tôi không hề nghĩ rằng chính hôm nay, lễ thánh cả Giuse năm 2000, Đức Giám Mục kế vị tôi lại thánh hiến chính nơi tôi bị quản thúc một nhà thờ đẹp nhất dâng kính thánh Giuse tại Việt Nam.

“Cách đây 24 năm, tôi không bao giờ ngờ rằng ngày hôm nay, khi vừa kết thúc tuần Tĩnh Tâm, một vị Hồng Y giao cho tôi một món quà lớn để giúp cho những người nghèo tại giáo xứ ấy.

“Thiên Chúa thật cao cả, và tình thương của ngài cũng cao cả.”

Lữ Giang

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm A đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm B đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm C đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Dương Lịch & Âm Lịch