Lễ Tro, B: Sống tinh thần Mùa Chay

THU_TU_LE_TRO_BThứ Tư Lễ Tro, Năm A, B, C

Ge 2:12-18; 2 Cr 5:20-6:2; Mt 6:1-6,16-18

Thứ Tư lễ Tro là ngày khởi đầu mùa Chay thánh, kéo dài khoảng bốn mươi ngày đêm, để tưởng nhớ bốn mươi đêm ngày (Mt 4:2) Ðức Giêsu ăn chay cầu nguyện trong hoang địa. Hôm nay trong nghi thức xức tro, linh mục nhắc nhở: Ta là thân bụi đất, và sẽ trở về đất bụi (St 3:19).

Xem thêm: Lễ Tro, B: Sống tinh thần Mùa Chay

Write comment (0 Comments)

CN 24 TN, C: Niềm vui khi tìm được người hay vật đã mất

CN_24_TN_CChúa Nhật 24 Thường Niên, Năm C

Xh 32:7-11, 13-14; 1Tm 1:12-17; Lc 15:1-32

Thường người ta coi sự vật mình có là ngẫu nhiên, nên không đánh giá được sự vật của mình sau khi bị mất đi. Ai mà không vui mừng khi tìm lại được những gì đã mất, nhất là những vật qúi giá hoặc cần thiết cho đời sống. Ai mà không vui thích khi tìm lại được cặp kiếng độ đeo mắt. Ai mà không thích thú khi tìm lại được chùm chìa khoá. Ai mà không hí hửng khi tìm lại được ví tiền có chứa đựng những giấy tờ thiết yếu. Ai mà không vui mừng khi tìm lại được chiếc nhẫn cưới. Ðược phục hồi sức khoẻ sau một cơn bệnh lâu dài và trầm trọng cũng là dịp vui mừng. Tìm lại được tình yêu hôn nhân đã chết trong con tim mà nay được đổi mới, đã khiến cho những cặp vợ chồng vui mừng cảm động khóc ra nước mắt.

Xem thêm: CN 24 TN, C: Niềm vui khi tìm được người hay vật đã mất

Write comment (0 Comments)

CN 33 TN, C: Sửa soạn cho ngày sau hết mà không ai biết

CN_33_TN_CChúa Nhật 33 Thường Niên, Năm C

Ml 3:19-20; 2 Tx 3:7-12; Lc 21:5-19

Phụng vụ lời Chúa vào cuối năm phụng vụ đặt trước mắt người tín hữu viễn tượng của việc Chúa đến lần thứ hai vào ngày thế mạt. Khi chọn đoạn Thánh kinh từ sách Malakhi, Giáo hội muốn nhắc nhở cho người tín hữu về ngày của Chúa, ngày mà mặt trời công chính (Ml 3:20a) sẽ được chiếu sáng trên những kẻ kính sợ Người. Còn bài Phúc âm đưa ra những hình ảnh về: Chiến tranh, loạn lạc (Lc 21:9), động đất, ôn dịch, đói kém, những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao (c. 10), khiến người ta lầm tưởng rằng ngày chung cục (c. 9), là ngày sau hết đã đến gần.

Khi bàn về ngày sau hết, tác giả Thánh kinh thường nại đến loại ngôn ngữ khải huyền, nghĩa là ngôn ngữ hay mẫu tư tưởng biểu tượng khó hiểu về ngày sau hết. Sách Danien, một phần sách Êdêkien, sách Khải huyền, phần bàn về ngày cánh chung trong Phúc âm Mát-thêu, Mác-cô và Luca, gợi lại những tai hoạ với những hình ảnh tàn phá xẩy ra trong vũ trụ như chiến tranh, động đất, bão tố, lụt lội và chết chóc.

Xem thêm: CN 33 TN, C: Sửa soạn cho ngày sau hết mà không ai biết

Write comment (0 Comments)

CN 22 TN, C: Bài học khiêm tốn và vị tha

CN_22_TN_CChúa Nhật 22 Thường Niên, Năm C

Hc 3:17-18, 20, 28-29; Dt 12:18-19, 22-24a; Lc 14:1, 7-14

Ðối với người Á đông như người Do thái thời xưa thì việc ngồi chỗ cao trong bàn tiệc là điều quan trọng. Ðược một chỗ danh dự nơi bàn tiệc là một dấu chỉ mình có địa vị và có tầm ảnh hưởng. Trong một buổi yến tiệc, người ta xếp chỗ ngồi theo cấp bậc, chức tước hay địa vị của mỗi nhân vật. Phúc âm hôm nay kể lại việc người Pharisêu mời Chúa Giêsu đến dùng bữa tại nhà. Có lẽ đa số khách được mời đến dự tiệc là người Pharisêu vì bữa tiệc do người thủ lãnh nhóm Pharisêu khoản đãi. Phúc âm ghi lại, họ cố dò xét Ðức Giêsu (Lk 14:1). Tại sao họ lại dò xét Người? Ta có thể suy ra là họ làm như vậy để xem Chúa chọn ngồi ở đâu. Quan sát thấy thiên hạ cứ chọn chỗ nhất mà ngồi, Người mới bảo họ khi được mời đi dự tiệc, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ ra có ai quan trọng hơn cũng được mời, mà phải nhường chỗ chăng? (Lc 14:7-9).

Xem thêm: CN 22 TN, C: Bài học khiêm tốn và vị tha

Write comment (0 Comments)

CN 32 TN, C: Tin vào sự sống lại đời sau

CN_32_TN_CChúa Nhật 32 Thường Niên, Năm C

2 Mcb 7:1-2, 9-14; 2 Tx 2:16-3:5; Lc 20:27-38

Nếu đời này là cùng đích và là cứu cánh của con người, thì nhiều sự việc xẩy ra ở trần thế là bất công, khi người gian ác được giầu sang, mạnh khoẻ; còn người hiền đức lại phải sống cảnh nghèo khó, bệnh tật. Nếu không có đời sau thì người ta phải tận hưởng những sự vật đời này cho tới mức tối đa, người ta phải tìm ăn ngon, mặc đẹp và kiếm tìm những thú vui cho thoả mãn ở đời này. Người theo các tôn giáo lớn như Phật Giáo, Ấn Giáo và Hồi Giáo đều tin có một kiếp sống nào đó ở đời sau. Còn đối với người Thiên Chúa Giáo, thì việc trải qua từ đời này sang đời sau, được gọi là phục sinh hay sống lại.

Xem thêm: CN 32 TN, C: Tin vào sự sống lại đời sau

Write comment (0 Comments)

Lễ Đức Maria Lên Trời, Năm C: Những sứ điệp Mẹ dạy tại La Vang

LE_ME_LT_CLễ Đức Maria Lên Trời, Năm C

Kh 11:19a;12:1-6, 10ab; 1Cr 15:20-27; Lc 1:39-56

Ngoài hai nơi Ðức Mẹ hiện ra được vang tiếng khắp thế giới là Lộ Ðức thuộc nước Pháp và Fatima thuộc nước Bồ Ðào Nha, Ðức Mẹ còn hiện ra ở những nơi khác nhau trên thế giới để nhắn nhủ loài người sống theo đường lối của Chúa hoặc để an ủi con cái loài người khi họ gặp khó khăn quẫn bách. Tại Việt Nam năm 1798, Ðức Mẹ hiện ra ở La Vang để an ủi, khích lệ giáo hữu bị bách hại vì đức tin dưới thời Vua Cảnh Thịnh.

Trong khi bị quân lính lùng bắt, ép buộc bỏ đạo, giáo dân kéo nhau chạy trốn vào rừng La Vang, nơi rừng thiêng nước độc, sợ thú dữ, hùm beo, rắn rết. Họ thiếu ăn, thiếu ngủ, lại sợ quân lính rượt bắt. Lúc này Ðức Mẹ hiện ra với nét mặt nhân từ âu yếm yên ủi họ. Theo một truyền thuyết, Ðức Mẹ bảo họ hái lá vằn, giọng Quảng Trị đọc trại ra là lả vằng, nẩu lên mà uổng sẽ hểt bệnh. Lá vằng sau biến thành La Vang. Theo một tương truyền khác, người ta nói miền này có cọp beo, nên khi thấy cọp, dân kêu la lớn tiếng, la lối vang lên để đuổi cọp. Còn theo lập luận của một giáo dân làng Cổ Thạch (1), tỉnh Quảng Trị thì khi người ta la lên, giọng của họ vang dội lại từ núi rừng nên họ gọi nơi này là La Vang, nghĩa là la lên rồi vang lại. Người này đã vào La Vang để thí nghiệm và chứng minh giọng của mình la lên, rồi vang lại từ núi rừng.

Các Giám mục Giáo phận Huế, người Pháp và Việt, đã cho xây Ðền Mẹ La Vang bốn lần sau khi nhà thờ nhỏ bị hư hỏng. Ðền thờ được xây lại lần thứ năm do Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bị tàn phá do chiến tranh vào mùa hè đỏ lửa 1972, Đền thờ được sửa tạm lại do sự giúp đỡ của đồng bào Việt nam hải ngoại để ăn mừng hai trăm năm vào năm 1998.

Từ năm 1901, tượng Ðức Mẹ La Vang đã được phỏng theo tượng Ðức Bà chiến thắng ở Vương Cung Thánh đường Notre Dame tại Ba Lê. Cũng vào năm này, Ðức Cha Gasper đã làm phép thánh tượng La Vang và đặt bổn mạng của thánh đường La Vang là Ðức Bà phù hộ các giáo hữu. Cũng nên biết tước hiệu Ðức Bà phù hộ các giáo hữu đã được Ðức Giáo hoàng Piô V thêm vào Kinh Cầu Ðức Bà.

Ðền thánh La Vang đã được những vị chức sắc đạo đời đến thăm viếng và cầu nguyện như Hoàng Hậu Nam Phương, Hồng Y Spellman là tổng Giám mục Nữu ước, hồng Y Agagianian là Ðặc sứ của Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII và nhiều giám mục Việt Nam bắt đầu từ Ðức Cha Nguyễn Bá Tòng, Giám mục tiên khởi người Việt.

Ðại hội Ðức Mẹ La Vang đã được tổ chức vào những năm 1904, 1914, 1932, 1954, 1961. Năm 1961, Hội Ðồng Giám mục Việt Nam quyết định chọn Thánh đường La Vang làm Ðền thờ toàn quốc dâng kính trái Tim Vô nhiễm Ðức Mẹ và nhận linh địa La Vang làm Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc. Vào cuối Ðại hội La Vang 1961, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII ban Sắc Chỉ nâng Ðền Thờ La Vang lên hàng Vương Cung Thánh đường (2).

Trong dịp tôn vinh 117 vị anh hùng tử đạo tại Việt nam lên hàng hiển thánh vào năm 1988, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc nhở đoàn con Việt Nam sang La mã dự lễ phong thánh đừng quên linh địa La Vang là nơi đã được dâng kính cho Ðức Mẹ.

Trong ngày lễ Các Thánh Tư Ðạo Viêt Nam 1992, Ðức Giáo hoàng còn nói: Cha phó dâng cộng đồng Viêt Nam cho Ðức Trinh nữ, Nữ Vương Các Thánh Tử Ðạo, đã được sùng kính gần 200 năm tại nơi đây với niềm mong ước cho cộng đồng dân Chúa ở đây được sống và lớn lên trong tự do và an bình, để có thể góp phần vào việc xây dựng một xã hội phồn thịnh và phát triển đất nước.

Vào ngày lễ Mẹ lên trời 1993, Ðức Thánh Cha còn nói rõ hơn: Cha phó thác toàn thể cộng đồng dân Chúa tại Việt Nam vào sự chuyển cầu của Ðức Mẹ La Vang. Mẹ là hiền mẫu đã hiện ra năm 1798 để an ủi con cái Mẹ đang bị bách hại dưới triều vua Cảnh Thịnh.

Ðến năm 1994, chính Ðức Giáo hoàng Gioan Phaolô đã làm phép thánh tượng Mẹ La Vang tại quảng trường thánh Phêrô và tượng đó đã được rước đến các cộng đoàn công giáo Việt Nam hải ngoại cho giáo dân kính viếng và cầu nguyện. Năm 1996, Ðức Hồng Y Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh Toà Thánh, nhân danh Ðức Thánh Cha đã gửi đến Ðại Hội Hành Hương La Vang lời chào mừng như sau: Ðức Thánh Cha chia sẻ niềm vui, hiệp thông lời cầu nguyện của cộng đồng dân Chúa tại Tổng Giáo phận Huế và trong cả nước Việt Nam, hiệp thông lời cầu nguyện và niềm vui của các vị chủ chăn, cùng đi với giáo dân tới La Vang, tôn kính và ngợi khen Ðức Trinh Nữ, Ðấng an ủi và nâng đỡ họ trong thời buổi gian nan thử thách. Ðức Thánh Cha cũng khuyến khích các tín hữu sống kiên trung và can đảm.

Năm 1999, một phái đoàn giám mục Hoa Kì thuộc các uỷ ban có liên hệ đến Việt Nam do Ðức Cha Joseph A. Fiorenza hướng dẫn đến thăm Việt Nam và La Vang. Sau khi đọc qua bản tóm lược lịch sử Mẹ La Vang và hiện tình hai quốc gia liên hệ, Ðức Cha Fiorenza, đại diện Hội Thánh Hoa Kì nói: Xin nhận Mẹ La Vang là Mẹ của Hội Thánh và dân tộc Hoa Kì.

Có dịp đến kính viếng và cầu nguyện tại Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm tại thủ đô Mĩ quốc một số lần, linh mục Trần Bình Trọng quan sát thấy nhiều quốc gia trên thế giới có gian nhà nguyện kính Đức Mẹ hay ông thánh nọ bà thánh kia của họ tại đây với mấy dòng lịch sử gắn liền với quê hương họ và lời cầu nguyện vắn tắt cho xứ sở họ. Linh mục đương sự liền khởi xướng ước muốn có gian nhà nguyện kính Mẹ La Vang tại Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Thủ Đô Hoa Kì. Ước muốn khởi xướng được Đức Ông Mai Thanh Lương (sau là Giám mục), Giám Đốc phối trí giữa Hội Đồng Giám mục Hoa Kì và Liên Đoàn Công Giáo Viêt Nam tại Mĩ tán đồng, liền cho khởi sự việc xin phép Hội Đồng Giám Mục Mĩ. Công trình thiết kế được Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kì phối trí với Ban Giám Đốc Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm thực hiện. Phần tài trợ là do giáo dân Việt Nam tại Hoa Kì đảm trách.

Gian nhà nguyện kính Mẹ La Vang được thánh hiến ngày 21 tháng 10, 2006 do Đức Cha Donald W. Wuerl, Tổng Giám mục Hoa Định Đốn và là Chủ tịch của Ban Giám Đốc Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm chủ tế trong thánh lễ, có Đức Cha Mai Thanh Lương, Giám mục phụ tá Orange giảng thuyết, với cả trăm linh mục Việt nam từ nhiều giáo phận Mĩ đồng tế và hơn năm ngàn giáo dân Việt Nam từ nhiều tiểu bang Mĩ tham dự ngay cả từ xa xôi như Massachusetts, Missisippi, Texas, California. Tạ ơn Chúa đây là căn phòng cuối cùng còn trống mà Ban Giám Đốc Đền Đức Mẹ Vô Nhiễm dành cho Việt Nam cho việc thiết kế gian nhà nguyện kính Mẹ La Vang. Vì không còn phòng trống, nên những quốc gian xin sau đó, chỉ có thể được treo hình Đức Mẹ của họ ở đâu đó trên tường Đền Mẹ Vô Nhiễm mà thôi mà thôi.

Vậy đâu là sứ điệp của Mẹ La Vang? Sứ điệp thứ nhất của Mẹ La Vang là: Các con hãy tin tưởng, hãy vui chịu đau khổ. Sứ điệp thứ hai của Người Mẹ hiền là: Mẹ đã nhậm lời các con cầu xin. Sứ điệp thứ ba của Mẹ La Vang là: Từ nay về sau, hễ ai đến kêu xin Mẹ ở nơi đây, họ sẽ được toại nguyện.

Kinh Thánh Mẫu La Vang:

Lạy Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang, đầy muôn ơn phước, ngời chói hào quang, muôn vàn Thần Thánh không ai sánh bằng. Ðức Chúa Trời đã đoái thương chọn Mẹ, tinh tuyền, thánh thiện, sinh Ðấng Cứu Ðộ muôn đời. Mẹ đã chọn La Vang mà hiện đến, cứu giúp hộ phù tổ tiên chúng con, giữa thời li loạn cấm cách, khốn khổ trăm bề. Từ ấy gót chân Mẹ bước đến, vẫn mãi đầy ơn thiêng: ơn phần hồn, ơn phần xác, người bệnh tật, kẻ ưu phiền, nào ai cầu khẩn mà Mẹ không nhận lời.

Lạy Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang, Mẹ là Thánh Mẫu Chúa Trời, cũng là Thánh Mẫu loài người chúng con. Cúi xin xuống phước hải hà, đoái thương con cái thiết tha van nài. Xin cho chúng con tấm lòng từ bi nhân hậu, đại lượng bao dung, cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống. Xin Mẹ phù hộ chúng con, luôn sống đức hạnh, đầy lòng cậy trông và sau cuộc đời này, xin cho chúng con được về sống bên Mẹ, hưởng vinh phúc trong Chúa Ba Ngôi muôn đời. Amen.

Lm Trần Bình Trọng

_________

  1. Người làm thí nghiệm tiếng người la to, vang lên rồi vọng lại từ núi rừng là Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh, làng Cổ Thạch, Quảng Trị để chứng minh lập luận tại sao linh địa này được mệnh danh là La Vang.
  2. Từ triệt 2 của bài này cho tới hết triệt 5 được viết theo tài liệu của các tác giả: Ð. Ô. Trần Văn Hoài, Ð. Ô. Nguyễn Văn Tài, Lm Trần Văn Kiệm.
Write comment (0 Comments)

CN 30 TN, C: Lời cầu nguyện của người khiêm tốn đươọc chấp nhận

CN_30_TN_CChúa Nhật 30 Thường Niên, Năm C

Hc 35:12-14, 16-18; 2 Tm 4:6-8, 16-18; Lc 18:9-14

Hai nhân vật trong dụ ngôn Phúc âm hôm nay tượng trưng cho hai lớp người thời Thánh kinh Tân ước về việc cầu nguyện: người Pharisêu và người thu thuế. Người Pharisêu thuộc phe biệt phái, nằm trong Do thái giáo. Sử gia Josephus ước lượng có chừng sáu ngàn người Pharisêu thời vua Hêrôđê. Họ hay phê bình chỉ trích, bắt bẻ và chống đối Chúa Giêsu và các môn đệ Chúa. Chúa Giêsu cũng thường cảnh giác họ, gọi họ là nhóm giả hình vì họ đi lạc đường lối, toan nô lệ hoá con người bằng việc giữ tập tục bề ngoài của tiền nhân. Họ giữ luật theo hình thức bên ngoài, mà tâm hồn thì xa Chúa, và còn sống đời bất công. Thánh sử Mát-thêu dành cả một chưong (Chương 23) ghi lại tội giả hình của nhóm Pharisêu và khiển trách họ.

Xem thêm: CN 30 TN, C: Lời cầu nguyện của người khiêm tốn đươọc chấp nhận

Write comment (0 Comments)

CN 19 TN, C: Tỉnh thức và sẵn sàng đợi chờ

CN_19_TN_CChúa Nhật 19 Thường Niên, Năm C

Kn 18:6-9; Dt 11:1-2, 8-19; Lc 12:32-48

Trong đời sống thường ngày, đôi khi người ta phàn nàn hay nghe phàn nàn: Nếu biết trước được sự thể sẽ xẩy ra như vậy, người ta đã đề phòng, để khỏi xẩy ra nông nỗi này. Nếu biết trước được tai nạn xẩy ra, người ta đã thắt đai an toàn, đã thế nọ thế kia khi lái xe. Nếu biết trước được máy bay rớt, người ta đã không đi chuyến bay đó. Sự thật thì người ta không nắm chắc được tương lai và số phận, người ta không lường được chữ ngờ.

Trong Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu kêu gọi loài người phải tỉnh thức và sẵn sàng, chờ ngày Chúa đến. Rồi Chúa kể dụ ngôn khi người chủ nhà đi vắng, thì người đầy tớ khôn ngoan sửa soạn đợi chủ về (Lc 12:36-38). Còn người đầy tớ  không tỉnh thức chờ đợi, nên khi chủ về bị bắt quả tang làm chuyện bất lương, thì thật là vô phúc cho anh ta (c. 45-46). Chúa bảo ta cũng hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút ta không ngờ, thì Con Người sẽ đến (c. 40). Trong thời Cựu ước, việc thiên thần Chúa đến giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ bên Ai cập cũng đã xẩy ra bất ngờ (Kn 18:7). Ai đã là hướng đạo sinh thì hiểu được ý nghĩa của khẩu hiệu: Sắp sẵn hay sẵn sàng của Hướng đạo.

Xem thêm: CN 19 TN, C: Tỉnh thức và sẵn sàng đợi chờ

Write comment (0 Comments)

CN 28 TN, C: Biết ơn về ân huệ nhận được

CN_28_TN_CChúa Nhật 28 Thường Niên, Năm C

2 V 5:14-17; 2 Tm 2:8-13; Lc 17:11-19

Gửi thiệp thăm hỏi là cách thế cho thân nhân và bạn hữu biết rằng mình không quên họ. Nhận được thiệp thăm hỏi của một người quen biết là một kinh nghiệm vui thích. Có nhiều loại thiệp cho nhiều dịp khác nhau: thiệp chúc tết, thiệp chúc mừng Giáng sinh, thiệp mừng sinh nhật, thiệp cưới hỏi, thiệp cám ơn.. Việc mua bán thiệp là một dịch vụ thương mại đáng kể. Nói lời cám ơn hay gửi thiệp cám ơn là cách bày tỏ lòng biết ơn của mình. Nhận được lời cám ơn hay thiệp cám ơn là một kinh nghiệm hài lòng.

Phong cùi là một bệnh đã gây ra mối lo sợ cho loài người, tương tự như mối lo sợ của người đời nay về những bệnh nan trị như ung thư, aids (si-đa)... Ngoài việc phải phấn đấu với chứng bệnh huỷ hoại thân thể, người phong cùi còn phải chịu một hình phạt thấm thía hơn về tinh thần: đó là bị người đời xa tránh. Người phong cùi thời Thánh kinh Cựu ước phải sống tách biệt khỏi người lành mạnh. Sách Lêvi ghi lại: Người ấy phải ở riêng ra, chỗ ở của họ là một nơi bên ngoài trại (Lv 13:46). Nếu gặp người lành mạnh ngoài đường, họ phải hô hoán lên: Ô uế (Lv 13:45) cho người ta biết mà đề phòng. Ngoài ra người phong cùi không được phép đến nơi thờ phượng công cộng vì bệnh phong cùi bị coi là nhơ bẩn.

Xem thêm: CN 28 TN, C: Biết ơn về ân huệ nhận được

Write comment (0 Comments)

CN 17 TN, C: Cầu nguyện như Chúa dạy

CN_17_TN_CChúa Nhật 17 Thường Niên, Năm C

St 18:20-32; Cl 2:12-14; Lc 11:1-13

Khi còn tại thế, Chúa Giêsu đã sống đời cầu nguyện để được hiệp nhất với Thiên Chúa Cha. Tới tuổi mười hai, người ta thấy Chúa lên Ðền thờ cầu nguyện cùng với Mẹ Maria và thánh Giuse (Lc 2:46). Chúa Giêsu còn vào hội đường Nadarét cầu nguyện và đọc sách thánh (Lc 4:16-19). Trước khi bắt đầu cuộc sống công khai, Chúa đi vào hoang địa để ăn chay và cầu nguyện suốt bốn mươi ngày (Lc 4:2). Trước khi dùng bữa hoặc làm phép lạ, người ta cũng thấy Chúa cầu nguyện (Lc 9:16; Lc 22:17, 19; Lc 24:30). Người ta còn thấy Chúa cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-ni, xin với Chúa Cha cho khỏi uống chén đắng, nghĩa là khỏi chịu khổ hình thập giá, nhưng xin vâng theo ý Chúa Cha (Lc 22:41-42). Trên thánh giá Chúa cầu nguyện xin Chúa Cha tha thứ cho những người đóng đinh mình vì họ không biết việc họ làm (Lc 23:34).

Xem thêm: CN 17 TN, C: Cầu nguyện như Chúa dạy

Write comment (0 Comments)

CN 26 TN, C: Sử dụng tiền của với trách nhiệm cứu giúp

CN_26_TN_CChúa Nhật 26 Thường Niên, Năm C

Am 6:1a, 4-7; 1 Tm 6:11-16; Lc 16:19-31

Nếu đời này là cùng đích của con người, thì những cảnh nghèo khổ, đói rách, bệnh hoạn, tật nguyền, sầu khổ.. là những bất hạnh của con người. Nếu đời này là cứu cánh, thì người ta phải tận hưởng cho tới mức tối đa: người ta phải tìm ăn ngon mặc đẹp, người ta phải kiếm tìm những thú vui cho thoả mãn. Tuy nhiên đời này chỉ là tạm gửi. Trừ ra những người theo chủ nghĩa duy vật vô thần, còn đa số loài người đều tin có đời sau. Nếu không có đời sau, thì nhiều việc xẩy ra ở đời này là bất công, bởi vì nhiều người hiền đức, thánh thiện và công chính đã phải chịu kiếp sống nghèo đói, tù đày và phải mang bệnh tật đau đớn.

Xem thêm: CN 26 TN, C: Sử dụng tiền của với trách nhiệm cứu giúp

Write comment (0 Comments)

CN 15 TN, C: Yêu tha nhân phải được thể hiện bằng việc làm

CN_15_TN_CChúa Nhật 15 Thường Niên, Năm C

Ðnl 30:10-14; Cl 1:15-20;  Lc 10:25-37

Ý thức được con người có xác và hồn, cho nên ước muốn của người luật sĩ trong Phúc âm hôm nay là làm thế nào để được hưởng sự sống đời sau. Vì thế ông ta bèn hỏi Ðức Giêsu làm sao để được hưởng sự sống vĩnh cửu? Ðọc Phúc âm, ta thấy đôi khi Chúa Giêsu trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi khác, nhất là khi gặp câu hỏi hai ý, hay khi người hỏi, không phải muốn biết, nhưng hỏi để bắt bẻ.

Người luật sĩ hôm nay đặt câu hỏi, không phải để bắt bẻ, nhưng là muốn biết. Tuy vậy Chúa Giêsu cũng hỏi lại để cho ông ta ý thức về bổn phận của mình, cho ông ta thức tỉnh và suy nghĩ, khiến ông ta tự tìm ra câu trả lời. Chúa Giêsu hỏi lại viên luật sĩ rằng: Trong lề luật đã chép như thế nào?(Lc 10:26). Người luật sĩ thưa: Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình (Lc 10: 27). Ở nơi khác trong Phúc âm, Chúa Giêsu bảo người thông luật/kinh sư hai giới răn quan trọng nhất nhì trong các giới răn là: mến Chúa và yêu người (Mt 22:37-39; Mc 12:30-31). Tuy vậy người luật sĩ không mãn nguyện với câu trả lời trong sách luật mà ông ta coi là quá tổng quát và trừu tượng. Ông ta muốn thấy có gì cụ thể nên mới hỏi lại: Nhưng ai là người thân cận của tôi? (Lc 10:29).

Xem thêm: CN 15 TN, C: Yêu tha nhân phải được thể hiện bằng việc làm

Write comment (0 Comments)

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm A đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm B đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Hằng tuần Chúa Nói Ta Đáp, Năm C đã được xuất bản tại Hoa Kì và được xuất bản lần 2 tại Việt Nam. Lời giới thiệu về sách được ghi ở Mục: Sách của Tác giả trang chủ, cuối cột 1.

Dương Lịch & Âm Lịch